Lớp 8

Nghị luận xã hội văn học và tình thương

Nhằm giúp các em hiểu hÆ¡n về mối quan hệ giữa văn học và tình thÆ°Æ¡ng Học247 xin gá»­i đến các em bài văn mẫu Nghị luận xã hội văn học và tình thÆ°Æ¡ng dưới đây. Mời các em cùng tham khảo nhé! Ngoài ra, để làm phong phú thêm kiến thức cho bản thân, các em có thể tham khảo thêm bài văn mẫu Nghị luận về lòng bao dung.

1. Sơ đồ tóm tắt gợi ý

2. Dàn bài chi tiết

a. Mở bài:

– Giới thiệu khái quát vấn đề nghị luận.

b. Thân bài:

– Mối quan hệ giữa văn học và tình thÆ°Æ¡ng.

– Các tác phẩm văn học thường ca ngợi, trân trọng những con người biết “thÆ°Æ¡ng người nhÆ° thể thÆ°Æ¡ng thân”, giàu lòng yêu thÆ°Æ¡ng và nhân ái:

+ Tình yêu với những người thân.

+ Tình yêu với những gì gần gũi, bình dị xung quanh.

+ Tình yêu quê hÆ°Æ¡ng đất nước…

– Các tác phẩm văn học cÅ©ng luôn lên án, phê phán những kẻ sống thiếu tình thÆ°Æ¡ng. (TÆ°Æ¡ng tá»± nhÆ° ở phần trên, lấy dẫn chứng, phân tích, chứng minh.)

c. Kết bài:

– Vai trò của các tác phẩm văn chÆ°Æ¡ng trong việc bồi đắp tình yêu thÆ°Æ¡ng trong tâm hồn mỗi người.

3. Bài văn mẫu

Đề bài: Em hãy viết bài văn nghị luận xã hội về vấn đề văn học và tình thương.

Gợi ý làm bài:

3.1. Bài văn mẫu số 1

Chúng ta có thể thấy, trong tất cả các tác phẩm văn học, không có tác phẩm nào là không nhắc tới tình thương. Thật vậy, văn học và tình thương là hai khái niệm đan xen, không thể tách rời.

Văn học là một bộ môn nghệ thuật dùng ngôn ngữ để tái hiện đời sống. Các nhà văn, nhà thơ cũng dùng ngôn ngữ để diễn tả tự tưởng, tình cảm của mình với cuộc sống, đặc biệt là tình yêu thương luôn được các nhà văn đề cập đến ở nhiều phương diện. Tóm lại, các cung bậc tình cảm yêu thương đều được phản ánh rất sinh động trong các tác phẩm văn học. Còn tình thương là những biểu hiện tình cảm của người với người, là sự thương mến, xót xa, đồng cảm của những tấm lòng nhân ái, là thứ tình cảm trao đi mà không cần nhận lại, không vụ lợi, toan tính.

Mấy ai đã từng cố định nghĩa văn học là gì. Văn học được xác lập nhờ mối rung cảm thầm kín giữa con người và cuộc sống. Sống trong dòng chảy ngọt ngào của văn học, con người tắm mình trong tình cảm của nhà văn và của chính mình, Nhà văn phải luôn luôn đến với cuộc sống, để cảm nhận, khám phá, thẩm định nó. Văn học ra đời từ cuộc sống, văn học phải quay trở về để khám phá thể hiện lại cuộc sống. Song nếu chỉ dừng lại ở đó, ,văn học chưa là văn học, nó chỉ là cuốn biên niên sử thuần túy. Văn học chỉ thật sự là văn học khi nào từ cuộc sống ấy mà bật lên nét “cảm”, sự rung động của trái tim nghệ sĩ. Nhiệm vụ thiêng liêng của văn học chính là nuôi dưỡng tình thương trong con người, là đề cao tình thương và lên án những gì chà đạp lên giá trị nhân bản ấy.

Thế kỉ XV, đại thi hào Nguyễn Du viết “Đoạn trường tân thanh”. Trong đó, ta bắt gặp những sự thối nát, những cảnh trái ngang, nhưng hơn hết vẫn là một tấm lòng chan chứa nhân ái, yêu thương con người của Nguyễn Du. Truyện Kiều của ông có những hiện thực của “những điều trông thấy” nhưng phải được chắt ra từ những giọt nước mắt “đau đớn lòng”. Đó vừa là sự khẳng định, vừa là sự tiếp nối niềm tin về nhân cách và bản chất tốt đẹp của con người. Nếu sống thờ ơ ghẻ lạnh như một kẻ hành hương bàng quan, quyết Nguyễn Du không thể hòa vào với cuộc đời dâu bể của nàng Kiều để rung lên những tình cảm sâu lắng nhất. Ông đã đồng cảm với nàng Kiều và phát hiện ra cái cao thượng trong số phận tưởng chừng đã bị đạp xuống đáy sâu nhân cách ấy, cái trinh bạch trong con người Kiều giữa xã hội.

Bầu và bí là hai loại cây khác nhau nhÆ°ng thường được người nông dân trồng chung trên một rẻo đất, thường leo chung một giàn tre. Nó trở nên thân thiết, gần gÅ©i, cùng chung một điều kiện sống, cùng chung một số phận. Chính vì thế, dân gian đã mượn hình ảnh cây bầu, cây bí, qua đó nhắc nhở con người phải biết yêu thÆ°Æ¡ng, đùm bọc nhau. Hay nhÆ° nhân vật ông giáo trong tác phẩm “Lão Hạc” của Nam Cao, ông là một người tri thức nghèo nhÆ°ng có lòng yêu thÆ°Æ¡ng người vô bờ bến. Khi lão Hạc phải xa con, dằn vặt vì không lo nổi đám cưới cho con mình, khi lão Hạc khổ sở vì bán con chó, thì chính ông giáo là người xoa dịu cái nỗi đau của lão Hạc. Ông là chỗ dá»±a tinh thần, là niềm an ủi, tin cậy của lão Hạc. Không chỉ vậy, ông giáo còn tìm mọi cách để giúp khi biết lão Hạc đã nhiều ngày không ăn gì.

Lòng yêu thÆ°Æ¡ng đất nước còn được thể hiện sâu sắc trong tác phẩm “Hịch tướng sÄ©” của Trần Quốc Tuấn. Trước tiên, Trần Quốc Tuấn thể hiện lòng yêu nước của mình ở lòng căm thù giặc. Ông vạch trần tội ác của giặc bằng lời lẽ sinh động, coi chúng nhÆ° loài cầm thú: “cú diều”, “dê chó”, “hổ đói”. Trạng thái căm uất sục sôi, hận thù bỏng rát, chất chứa cảm xúc lớn về vận mệnh đất nước. Không chỉ Trần Quốc Tuấn là một vị chủ tướng yêu nước, mà ngay cả Nguyễn Trãi cÅ©ng thể hiện lòng yêu nước của mình qua văn bản “Nước Đại Việt ta”. Nguyễn Trãi đã có tÆ° tưởng tiến bộ, ông đề cao sức mạnh của nhân dân, sức mạnh của dân tộc. Không những thế, ông còn cho ta thấy tất cả các yếu tố của một quốc gia có độc lập tá»± chủ: nền văn hoá lâu đời, có lãnh thổ riêng, phong tục riêng.

Nhà văn Thạch Lam thì dùng những trang viết giàu chất thơ để nói lên khao khát của những người dân phố huyện khắc khoải đợi chờ ánh sáng của một thế giới khác hơn đến với cuộc sống tù túng, tẻ nhạt của mình (Hai đứa trẻ). Nguyên Hồng thì khắc họa những “rung động cực điểm của một tâm hồn trẻ dại” của cậu bé ngày được gặp lại mợ trong “những ngày thơ ấu.” Ở đấy dường như không còn chỉ là vấn đề trái tim, mà là cái nhìn sắc sảo đã quyện hoà vào trong xúc cảm. Người nghệ sĩ phải có tình thương thì mới có thể sáng tác văn học, bởi chỉ có tình thương thì người ta mới vượt qua những bề nổi thông thường để phát hiện trong mỗi thân phận người những nỗi niềm sâu kín, những cảm xúc đa chiều đến vậy.

Tình thÆ°Æ¡ng trong văn học còn thể hiện ở các nhà văn phê phán thái độ sống ích ká»·, độc ác của con người trong xã hội. Ví dụ nhÆ° trong truyện cổ tích “Tấm Cám”, chúng ta sẽ thấy được thái độ căm ghét của mọi người đối với mẹ con Cám. Cái chết ở cuối câu chuyện đã lên án gay gắt: những kẻ ác phải bị trừng phạt. Không chỉ trong truyện cổ tích dân gian, mà chính trong những tác phẩm văn học nước ngoài cÅ©ng phê phán lối sống vô lÆ°Æ¡ng tâm của con người. “Cô bé bán diêm” của Andersen là một trong những tác phẩm đó. Vào đêm giao thừa, một em bé mồ côi mẹ, đầu trần chân đất, bụng đói người rét, vẫn phải đi bán diêm. Em lang thang trên khắp mọi nẻo đường, nhÆ°ng không ai để ý đến em. Và cuối cùng, cô chết trong một xó tường, xung quanh là những que diêm đã đốt hết. Qua câu chuyện này, tác giả đã lên án thái độ sống thờ Æ¡ của những con người trong xã hội.

Và ta biết rằng, nếu một ngày nào đó, bài văn của ta chẳng được ai đếm xỉa, điểm thấp và chỉ toàn lời chê bai, ta vẫn sẽ học văn, sẽ thích văn và vẫn sẽ cầm viết. Bởi vì văn học đã là một món quà. Văn học đã dạy cho ta cách để trái tim mình luôn hướng về tha nhân ngoài kia còn đang chờ đợi ta, văn học đã dạy cho ta cách để đôi mắt luôn lắng dõi cho những số phận bất hạnh hơn ta, dạy cho ta cách lắng nghe tiếng đời đang xao động mỗi ngày, tiếng khóc thầm và tiếng cười hi vọng, dạy cho ta cách dùng tất cả lòng nhiệt thành và sự may mắn ta đã được nhận để quay trở lại kia, quay trở lại với cuộc đời nắng gió và những kiếp người nhọc nhằn lo toan, để giúp đỡ, quan tâm và hỗ trợ.

Và nếu ta cũng không thể viết, nếu trí ta bất lực không thể viết được một tác phẩm ra hồn, thì ta vẫn yêu văn và đọc văn. Bởi vì cuộc đời sao mà chông gai quá và mỗi con người đều đang bước trên những bậc thang chênh vênh. …. Ta chỉ mong sao, với những gì ta học được từ những tiết học văn, với những gì ta đọc được trong những tác phẩm văn học, ta sẽ luôn vin vào những điều tốt đẹp để bước qua được những thiếu sót, những hèn hạ trong bản thân mình. Để hoàn thiện mình mỗi ngày. Để rèn luyện trở thành một người tốt. Một người biết mang lại niềm vui. Một người có ích cho cuộc đời. Một người hành động vì tình thương. Một người hiểu hơn điều gì hết, rằng: học văn, trước tiên là học viết một từ ghép tuyệt đẹp “Nhân ái”.

3.2. Bài văn mẫu số 2

M.Gooc-ki đã nói “Văn học là nhân học”. Đối tượng mà văn học hướng đến là con người với “chữ người được viết hoa”. Có nghÄ©a là, văn học hướng về, đề cao, ca ngợi và bồi đắp “chữ người viết hoa” ấy mọi thời đại để nó ngày một đẹp hÆ¡n, hoàn thiện hÆ¡n. Và trong rất nhiều nét đẹp của chữ viết hoa ấy phải kể đến tình thÆ°Æ¡ng, lòng nhân ái. Bởi thế ta thấy có sá»± đồng nhất giữa văn học và tình thÆ°Æ¡ng.

Tình thÆ°Æ¡ng vốn là một trong những đức tính của con người. Nó xuất phát từ tấm lòng, trái tim mỗi con người. Nó mang tính hướng thiện, nhân đạo và nhìn sá»± việc bằng sá»± gắn bó với những tÆ° tưởng hay giá trị đạo đức được xã hội công nhận. Là cÆ¡ sở gắn kết những mối quan hệ xung quanh, làm cho khoảng cách giữa con người gần hÆ¡n. Từ xÆ°a đến nay, dân tộc Việt Nam ta luôn đề cao tÆ° tưởng nhân ái, một đạo lí cao đẹp, truyền thống “lá lành đùm lá rách” cÅ©ng được phát huy qua nhiều thế hệ. Những tình cảm cao quý ấy được kết tinh, hội tụ và phản ánh qua những tác phẩm văn học dân tộc.

Văn học từ đời sống đến thẳng với mọi người, với sức vang dội riêng của tâm hồn, bằng tiếng nói riêng của tình cảm. Từ tình thÆ°Æ¡ng đời đến tình thÆ°Æ¡ng người là cuộc hành trình tất yếu tạo nên giá trị nhân văn sâu sắc của văn học. Nó nhÆ° nhân sá»± sống lên, làm cho người ta trong cuộc sống giới hạn của mình có thể bước qua ngưỡng cá»­a của hàng trăm cuộc đời khác, cùng vui buồn, ước mÆ¡, lo toan với những con người khác. Ta vừa nhÆ° quên mình, vừa nhÆ° tá»± tìm ra mình trong sá»± đồng cảm bao dung ấy. Ai mà không xúc động trước hình ảnh của “cô bé bán diêm” giữa mùa đông tê tái, cứ từng hồi quẹt lên những que diêm để ngọn lá»­a nhỏ nhoi giữ lại những ước mÆ¡ đời thường. Ánh sáng của những que diêm hay ánh sáng của tình yêu và niềm hy vọng trong trái tim cô bé? Chính ánh sáng ấy đã lấy đi cảm giác về cái giá lạnh của trời đêm đang cướp dần sá»± sống ở trong em. Chính ánh sáng của trái tim lung linh nhÆ° huyền thoại này đã khép lại câu chuyện bằng một hình ảnh tuyệt vời: hai bà cháu cầm tay nhau và vụt bay lên cao. Điều mà Anđecxen gá»­i gắm vào câu chuyện còn gì khác ngoài việc đánh động tình thÆ°Æ¡ng của con người. Tác giả để cho nụ cười đọng lại trên môi em nhÆ° biểu tượng của tấm lòng vị tha, nhân hậu với cuộc đời. NhÆ°ng đằng sau cuộc đời ấy là một câu hỏi xót xa: tại sao một đứa trẻ không được mỉm cười bằng những hình ảnh tưởng tượng trước khi về với cõi chết? Chính người đọc phải tá»± tìm lấy câu trả lời.

Bên cạnh việc ca ngợi những con người “thÆ°Æ¡ng người nhÆ° thể thÆ°Æ¡ng thân”, văn học cÅ©ng phê phán những kẻ ích kỉ, vô lÆ°Æ¡ng tâm. Trong truyện cổ tích “Tấm Cám”, chúng ta sẽ thấy được thái độ căm ghét của mọi người đối với mẹ con Cám. Cái chết ở cuối câu chuyện đã lên án gay gắt: những kẻ ác phải bị trừng phạt. Đáng ghê sợ hÆ¡n nữa là những người cạn tình máu mủ. Điển hình là nhân vật bà cô trong truyện “Những ngày thÆ¡ ấu”, một người độc ác, nham hiểm “giết người không dao”. Bà ta nói xấu, sỉ nhục mẹ bé Hồng trước mặt bé, đứa cháu ruột của mình, đứa cháu mồ côi tội nghiệp lẽ ra bà phải yêu thÆ°Æ¡ng để bù đắp lại những mất mát mà bé phải hứng chịu. Hay trong tiểu thuyết “Tắt đèn”, nhà văn Ngô Tất Tố đã cho chúng ta thấy sá»± tàn ác, bất nhân của tên cai lệ và người nhà lí trưởng. Chúng thẳng tay đánh đập những người thiếu sÆ°u, đến những người phụ nữ chân yếu tay mềm nhÆ° chị Dậu mà chúng cÅ©ng không tha. Rồi ông quan trong “Sống chết mặc bay” tiêu biểu cho tầng lớp thống trị, quan lại ngày xÆ°a. Trong cảnh nguy cấp, nhân dân đội gió, tắm mÆ°a cứu đê thì quan lại ngồi ung dung đánh tổ tôm. Ngay cả khi có người vào báo đê vỡ hắn vẫn thét lính đuổi ra và khi quan lớn ù ván bài to thì cÅ©ng là lúc cả làng ngập nước, nhà cá»­a lúa má bị cuốn trôi hết, tình cảnh thật thảm sầu. Chính sá»± việc cao trào đó đã lên án gay gắt tên quan hộ đê, hay chính là đại diện cho tầng lớp thống trị, dá»­ng dÆ°ng trước sinh mạng của biết bao người. Văn học không chỉ viết về tình thÆ°Æ¡ng, ca ngợi tình thÆ°Æ¡ng. Văn học còn khÆ¡i dậy tình thÆ°Æ¡ng trong lòng chúng ta, muốn chúng ta sẻ chia, cảm thông với những con người bất hạnh. Không ai dá»­ng dÆ°ng, cầm lòng khi đọc truyện Cô bé bán diêm tội nghiệp và cảnh cô bé chết trong đêm giao thừa lòng thầm hỏi trong cuộc sống này còn bao người sẽ chết nhÆ° thế trước sá»± thờ Æ¡ đến vô cảm của người đời? CÅ©ng bao lần ta nhỏ lệ khi đọc đoạn trích Một cảnh mua bán trong Tắt đèn khi Ngô Tất Tố kể về cái Tí với bát cÆ¡m thừa của chó nhà Nghị Quế. Ta cÅ©ng chẳng thể dá»­ng dÆ°ng trước nỗi truân chuyên của người con gái tài sắc Thuý Kiều mà Nguyễn Du đã bao lần nhỏ lệ khóc thÆ°Æ¡ng trong tác phẩm của mình. Rồi cảnh anh em Thành Thuá»· chia tay cùng những con búp bê làm lòng ta nhói đau khi chứng kiến những bất hạnh của tuổi thÆ¡ và nỗi bất hạnh mà các em phải gánh chịu quá sớm. Từ việc khÆ¡i dậy tình yêu thÆ°Æ¡ng ấy, văn học gá»­i đến chúng ta thông điệp: Hãy dâng tặng tình yêu thÆ°Æ¡ng cho mọi người ta lại cÅ©ng được đón nhận nó.

Thế giới thức tỉnh trong tôi, sá»± sống rạo rá»±c trăn trở trong tôi và muốn tôi hoà tan vào trong thế giới ấy, muốn ban phát cho tất cả mọi người mà tôi càng thấy thêm gắn bó keo sÆ¡n bằng mối tình nhân loại. Tác động của văn học với con người là nhÆ° thế! Qua “Chiếc lá cuối cùng”, O-Hen-ri không chỉ gá»­i thông điệp tình thÆ°Æ¡ng bạn đọc muôn thế hệ mà còn thể hiện lòng tin yêu mãnh liệt về con người, tin rằng tình người có thể làm thay đổi tất cả, kể cả cái chết. Bằng khao khát “một ngày kia tôi sẽ vẽ một tác phẩm kiệt xuất”, bằng tấm lòng nhân ái bao la, cụ BÆ¡-men đã “quên mình” để cứu lấy sá»± sống cho Giôn-xi từ một “bức hoạ” đặc biệt: chiếc lá thường xuân trên bức tường. Bệnh lao phổi từ Giôn-xi, cái chết chá»±c chờ của cô đã chuyển giao sang người hoạ sÄ© già. Điều còn lại không phải là cái chết mà là nhân cách sống, nghị lá»±c sống của những con người “biết” cải tạo hoàn cảnh và “dám” cải tạo hoàn cảnh cho mình và cho người.

Văn học chuyển tải tình thÆ°Æ¡ng và văn học là tình thÆ°Æ¡ng! Tình thÆ°Æ¡ng trong văn học là tấm lòng của nhà văn đối với nhân vật của mình, là những cảm xúc rung lên từ mỗi dòng văn, kiểu nhÆ° “Nguyễn Du viết Kiều nhÆ° có máu rỏ trên đầu ngọn bút, nước mắt thấm qua từng trang giấy” vậy! Tình thÆ°Æ¡ng ấy tuy theo cách nhìn nhận của nhà văn nhà thÆ¡ đối với cuộc đời mà có nhiều sắc thái: một cảnh tình thÆ°Æ¡ng trong sáng với quê hÆ°Æ¡ng và con người lao động nhÆ° “Quê hÆ°Æ¡ng” của Tế Hanh, một tình người bao la và niềm tin vững chắc vào con người nhÆ° “Chiếc lá cuối cùng” của O-Hen-ri, hay một trăn trở khắc khoải đến đau lòng vì sá»± dá»­ng dÆ°ng, phÅ© phàng của người đời nhÆ° trong “Cô bé bán diêm” của An-đéc-xen hay “Ông đồ” của VÅ© Đình Liên. NhÆ°ng cuối cùng vẫn là cái tình nhân loại.

Văn học trau dồi tình thÆ°Æ¡ng, gợi cảm xúc cho con người, làm cho họ gắn bó với nhau. Có người đã từng nói “Tình cảm của con người cÅ©ng giống một viên kim cÆ°Æ¡ng thô mà nhờ có văn chÆ°Æ¡ng “mài nhẵn” mới trở thành viên đá quý đẹp gấp vạn lần”. Đọc các tác phẩm văn học ta thấy gần hÆ¡n với những nhân vật trong chuyện và từ đó biết lắng nghe, rung động, cảm thông, chia sẻ. Đó là bước đi đầu để hình nhân phẩm đạo đức và từ đó có những suy nghÄ©, hành động đúng. Quả thật không sai, nhÆ° M.Gorki đã từng nói “xét đến cùng, ý nghÄ©a thá»±c sá»± của văn học là nhân đạo hóa con người”. Nhờ thế, văn học không chỉ dừng lại ở giá trị văn chÆ°Æ¡ng mà còn được mở rộng thành những viên gạch đầu tiên xây đắp ngôi nhà của tình thÆ°Æ¡ng giữa con người với con người trong xã hội.

Từ tất cả những dẫn chứng trên ta càng thấy văn học và tình thương gắn bó chặt chẽ với nhau đến chừng nào. Bởi lẽ tình thương khởi nguồn cho văn học và làm cơ sở để văn học tiếp tục truyền tải tình thương. Văn học và tình thương hòa quyện vào nhau và tạo nên những điều tốt đẹp nhất cho con người giúp con người phát triển theo một định hướng chung để ngày một hoàn thiện. Có vậy, con người mới có thể cùng nhau chung sống trong tình yêu thương.

—–Mod Ngữ văn biên soạn và tổng hợp—–

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button