Môn Văn

Phân tích bài ca dao: Gió đưa cành trúc la đà

Ca dao dân ca xưa gió đưa cành trúc la đà và kể cả không ít những nhà thơ đã tả nhiều về vẻ đẹp thanh bình kinh thành Thăng Long. Cảnh mùa thu thật đẹp, gió nhẹ nhẹ đủ làm gợn sóng mặt hồ Tây, bên bờ hồ liễu rủ biêng biếc. Hãy tham khảo với onthihsg ngay nhé.

Video hướng dẫn gió đung đưa cành trúc la đà

Đọc hiệu gió đưa cành trúc la đà

Trong ca dao – dân ca, đề tài về cảnh đẹp đất nước chiếm một mảng khá lớn. Mỗi bài là một bức tranh phong cảnh tuyệt với, ẩn chứa lòng tự hào, tình cảm gắn bó thiết tha, sâu nặng với quê hương, xứ sở. Bài ca dao nói về cảnh đẹp Hồ Tây ở thủ đô Hà Nội được lưu truyền rộng rãi và đã trở thành lời ru quen thuộc:

 Gió đưa cành trúc la đà,

Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương.

   Mịt mù khói tỏa ngàn sương,

Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.

     Hồ Tây xưa kia có tên là hồ Lãng Bạc (tức cái bến có sóng lớn), hay còn gọi là Dâm Đàm (hồ sương mù) vì thường vào lúc sáng sơm và chiều tồi, sương phủ dày trên mặt nước. Vì ở vị trí phía Tây kinh thành nên sau này nó được gọi là Hồ Tây. Xung quanh hồ là những địa danh nổi tiếng của đất Thăng Long như chùa Trấn Vũ, huyện lị Thọ Xương, làng Yên Thái (vùng Bưởi) chuyên nghề làm giấy (vỏ cây dó được ngâm mềm, giã nhuyễn rồi cán mỏng thành giấy), phường Nghi Tàm, quê hương của Bà Huyện Thanh Quan , thi sĩ nổi tiếng của nước ta.

     Bài ca dao là bức tranh toàn cảnh Hồ Tây vào một buổi sáng tinh mơ.

     Mở đầu là nét chấm phá đơn xơ nhưng sinh động: Gió đưa cành trúc la đà. Làn gió nhẹ sớm mai làm đung đưa cành trúc nặng trĩu sương đêm, tạo nên cái dáng mềm mại, nên thơ. Bức tranh duy nhất chỉ có nét thanh mảnh của cành trúc la đà trên cái nền mông lung mờ ảo của bầu trời và mặt hồ.

     Trong câu tiếp theo, các âm thanh hòa quyện vào nhau: Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương. Tiếng chuông ngân nga, tiếng gà gáy rộn rã báo hiệu một ngày mới bắt đầu. Tiếng chuông chùa vang vọng giữa thinh không gợi cảm giác bình yên. Tiếng gà gáy gợi lên cảm giác quen thuộc nơi thôn dã. Âm thanh của cõi đạo, cõi đời hòa quyện, làm tăng thêm vẻ tĩnh lặng của đất trời lúc đêm tàn, ngày rạng.

     Ai đã một lần đến Hồ Tây khi màn sương dày đặc còn bao phủ mặt hồ sẽ thấy được cái hay, cái đẹp của câu : Mịt mù khói tỏa ngàn sương, để rồi thực sự sống trong tâm trạng lâng lâng thoát tục trước vẻ đẹp thần tiên ấy.

     Nếu ở ba câu thơ trên mới thấp thoáng hơi hướng cuộc sống thì đến câu thứ tư, hình ảnh cuộc sống lao động bỗng hiện ra rõ nét qua nhịp chày giã dó dồn dập của dân làng Yên Thái. Nhịp chày cũng là nhịp điệu hối hả của cuộc sống cần lao.

     Hình ảnh mặt gương Tây Hồ làm bừng sáng cả bài ca dao. Mặt trời lên xua tan sương mù, tỏa ánh nắng xuống mặt nước, Hồ Tây trở thành một gương mặt khổng lồ sáng long lanh, vô cùng đẹp đẽ!

     Như vậy là chỉ vẻn vẹn trong bốn câu thơ lục bát mà cảnh đẹp Hồ Tây đã được ngòi bút tài hoa của người xua vẽ thành bức tranh thiên nhiên tuyệt mĩ. Ẩn chứa sau từng câu, từng chữ là lòng tự hào, yêu mến tha thiết với quê hương của người dân đất Thăng Long ngàn năm văn vật.

     Trên khắp đất nước Việt Nam ta, ở đâu cũng có những cảnh đẹp làm xao xuyến hồn người. Xứ Lạng ở Đồng Đăng có phố Kì Lừa, Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh. Hà Nội với ba sáu phố phường, Hồ Tây, Hồ Gươm, gò Đống Đa, chùa Một Cột… Miền Trung với Đường vô xứ Nghệ quanh quanh, Non xanh nước biếc như tranh họa đồ. Xứ Huế với vẻ đẹp uy nghiêm, trầm mặc của cung điện, đền đài, lăng tẩm, của sông Hương với núi Ngự Bình. Những đêm trăng sáng, tiếng hò ngân dài trên sông nước Hương Giang : Đò từ Đông Ba đò qua đập đá, Đò về Vĩ Dạ thẳng ngã ba Sềnh, Lờ đờ bóng ngả trăng chênh, Tiếng hò xa vọng nặng tình nước non. Người dân Nam Bộ tự hào với mảnh đất trù phú, mỡ màu bốn mùa hoa thơm trái ngọt, lúa chín vàng đồng: Cần Thơ gạo trắng nước trong, Ai đi đến đó chẳng mong ngày về…

     Tất cả những câu ca ấy dù mộc mạc hồn nhiên hay trau chuốt, trữ tình đều nói lên cảnh đẹp gấm hoa của non sông đất nước và thể hiện tình yêu quê hương đậm đà, sâu nặng của nhân dân ta. Giống như bao bài ca dao khá

     Tất cả những câu ca ấy dù mộc mạc hồn nhiên hay trau chuốt, trữ tình đều nói lên cảnh đẹp gấm hoa của non sông đất nước và thể hiện tình yêu quê hương đậm đà, sâu nặng của nhân dân ta. Giống như bao bài ca dao khác, bài Cảnh đẹp Hồ Tây sẽ sống mãi trong đời sống tinh thần của nhiều thế hệ người Việt.

Bài làm hướng dẫn ài ca dao gió đưa cành trúc la đà

BUỔI SÁNG Ở HỒ TÂY​​​​​​​ Gió đưa cành trúc la đà Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương Mịt mù khói tỏa ngàn sương Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.Hồ Tây vừa huyền ảo, vừa thân thương. Cái huyền ảo là của thiên nhiên, cái thân thương là của cuộc đời. Đương nhiên là cả hai đều rất đáng yêu, song cái đặc sắc của bài ca dao không chỉ ở nội dung mà trước hết ở cách thể hiện.

Đã là tả cảnh, dù là cảnh thiên nhiên hay cảnh sinh hoạt, các giác quan đều mở ra đón nhận những hình ảnh, đường nét, màu sắc, âm thanh, ánh sáng, hương vị. Về thiên nhiên có bốn chi tiết: làn gió, màng sương, mặt hồ, cành trúc, về sinh hoạt có ba chi tiết: tiếng chuông đền, tiếng gà gáy, tiếng nhịp chày. Để riêng các chi tiết thành hai loại như vậy thì thấy rất rõ là thiên nhiên được miêu tả bằng hình ảnh, đường nét màu sắc, ánh sáng, còn sinh hoạt lại được miêu tả bằng âm thanh và chỉ có âm thanh – những tiếng của đời thường. Tại sao lại không miêu tả như lệ thường, nghĩa là với thiên nhiên thì không chỉ nhìn thấy mà còn nghe thấy và với đời sống thì không chỉ nghe thấy mà còn nhìn thấy? Những âm thanh của thiên nhiên cũng như những hình ảnh của đời sống nào phải kém chất thơ!

Gió đưa cành trúc la đà (I) – Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp nên thơ của đất nước | Những bài thơ hay

Thiên nhiên yên lặng đến tuyệt đối. Không có tiếng gió, lời chim hay tiếng lao xao cành lá. Chính vì tất cả đều không cất lời mà khung cảnh càng thêm huyền ảo. Tất cả như chìm trong sương, chỉ còn hiện lên một cành trúc. Một cành trúc mảnh mai, mềm mại lá ngọn sát mặt nước và nhẹ đưa theo gió. Một cành trúc của cây trúc vốn nổi tiếng là xinh (Trúc xinh trúc mọc đầu đình… Trúc xinh trúc mọc bờ ao…). Làn gió ban mai mát lành vừa đủ đung đưa cành trúc và một trời sương khói như mơ. Không có màu sắc nào rực rỡ, lung linh. Chỉ một màu hơi nước bốc lên nghi ngút, và một chút xanh xanh lá trúc. Không có đường nét nào rõ ràng. Bầu trời, không trung, mặt nước sương khói mờ ảo. Tuy nhiên không vì thiếu vắng những âm thanh của thiên nhiên mà cảnh sắc thiếu cả sức sống. Cành trúc lay động nhẹ nhàng. Mặt hồ thì biến đổi: đang mờ trong sương khói chuyển thành một tấm gương lớn sáng trong. Không phải hồ nào cũng khói hương nghi ngút. Màn sương phủ kín mặt hồ chính là một nét riêng của Hồ Tây. Vào thời Lý, Hồ Tây có tên là Dâm Đàm, nghĩa là đầm sương mù. Và tấm gương bừng sáng cả một vùng thì đúng là Hồ Tây, cái hồ mênh mông của một Hà Nội không phải là to lắm.

Chẳng thế mà Hồ Tây có tên là hồ Lãng Bạc (nước mênh mông chan hoà). Và chỉ một cành trúc thanh mảnh, xinh xắn mà đã làm cho khung cảnh sống hẳn lên.

Từ trong cái yên lặng ấy cất lên những âm thanh của cuộc đời. Dường như là thiên nhiên đã cô giữ im lặng để cho những tiếng đời được vút lên, được ngân nga. Dường như là tác giả đã dùng sắc màu huyền thoại của thiên nhiên để làm khung cảnh cho bản giao hưởng của cuộc đời. Tiếng chuông đền Trấn Vũ lan tỏa giữa chốn nước mây. Tiếng gà huyện Thọ Xương gáy chuyền nhau vọng đến báo hiệu một ngày mới. Và tiếng chày giã đó nhịp nhàng của những người làm nghề giấy làng Yên Thái cần mẫn bắt đầu công việc ngày từ mờ sáng. Nếu như tiếng chuông, tiếng gà chẳng riêng Hồ Tây mới có thì nhịp chày tay thật là âm điệu đặc trưng cho vùng này. Giai điệu Hồ Tây bình bình trầm trầm với tiếng chày đều đều, vút lên với tiếng chuông dóng dả, tiếng gà lảnh lót, rồi ngân nga lan xa…

Bài ca dao có 28 chữ thì đã 8 chữ chỉ địa danh: Trấn Vũ, Thọ Xương, Yên Thái, Hồ Tây. Điều đó cố nhiên là cần vì những tên riêng ấy vang lên gợi ra được không gian vùng Hồ Tây. Nhưng như vậy chỉ còn 20 chữ để tả cảnh. Có ngần ấy thôi, sao đủ tả hết nên chỉ cảnh thiên nhiên được tả (cành trúc la đà, mịt mù khói ma, mặt gương Tây Hồ) còn cảnh sinh hoạt chỉ gợi mà không tả (nhắc tiếng chuông đền, tiếng gà gáy, tiếng nhịp chày mà không dùng những tính từ, động từ miêu tả): Với 20 chữ vẫn khiến người đọc nhận ra ngay được Hồ Tây qua những bảy chi tiết, mà đều là những chi tiết tiêu biểu, dấu hiệu đặc sắc: hồ rộng, hồ đầy sương, hồ mang nhịp sống vùng thủ công nghiệp cổ truyền, hồ đẹp và nên thơ. Với 20 chữ mà diễn tả nhiều đến thế, không thể dùng những so sánh ngầm kiệm lời: sương như khói, như rừng, mặt nước sáng như gương.

Bài ca dao mang nhịp điệu khoan thai, nhờ dùng thể lục bát, dùng nhịp đôi trong suốt cả bài và ngắt đôi các dòng tám. Nhịp điệu ấy biểu hiện nhịp sống thanh bình yên ả.

Đương nhiên bài ca dao còn hồi hộp như tâm tình của con người trước cảnh mà trước hết là tâm tình người Hà Nội.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button