Giáo Dục

Văn mẫu lớp 11: Phân tích bài Lưu biệt khi xuất dương (Dàn ý + 14 mẫu) Phân tích Lưu biệt khi xuất dương

Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương mang lại 14 bài văn mẫu siêu hay đạt điểm cao nhất của các bạn lớp 11. Qua đấy giúp học trò có thêm nhiều gợi ý tham khảo, nắm vững tri thức căn bản, củng cố kỹ năng viết văn, mở mang vốn từ để biết cách viết bài văn hay cho riêng mình.

Lưu biệt lúc xuất dương là bài thơ tuyệt bút đầy nhiệt huyết. Bài thơ là ngôn ngữ kiêu hãnh của nhà chí sĩ giàu lòng yêu nước, thương dân, dám lao vào vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. 1 giọng thơ đĩnh đạc hào hùng. Vậy sau đây là 14 bài văn mẫu phân tách Lưu biệt lúc xuất dương, mời các bạn cùng theo dõi tại đây.

Dàn ý phân tách Lưu biệt lúc xuất dương

1. Mở bài:

  • Trình bày nói chung những nét cốt yếu nhất về cuộc đời và sự nghiệp Phan Bội Châu: Đôi nét về cuộc đời hoạt động cách mệnh và sự nghiệp văn học…
  • Giới thiệu nói chung nội dung và nhấn mạnh tầm quan trọng của bài thơ Lưu biệt lúc xuất dương: Bài thơ đó là điển hình cho ý thức yêu nước của chính tác giả

2.Thân bài:

– Phân tích 2 câu thơ đầu (2 câu đề): Quan niệm về chí làm trai của Phan Bội Châu

+ Tác giả nêu lên quan niệm mới: là đấng đại trượng phu phải sống với khát vọng, mong muốn làm nên điều kì dị : “ yếu hi kì”, ko cam chịu để cho trời đất xoay chuyển mình.

⇒ Tư thế, 1 tâm thế đẹp về chí đại trượng phu phải tin cậy ở chừng độ và tài năng của mình ⇒ Tuyên ngôn về chí làm trai.

– Hai câu thực: Khẳng định tinh thần phận sự của tư nhân trước thời cục

+ Câu 3: “Tu hữu ngã” (phải có trong cuộc đời) → tinh thần phận sự của cái tôi tư nhân trước thời cục, tinh thần rõ vai trò, tầm quan trọng của tư nhân đối với vận mệnh trăm 5. Điều này đối lập với sự tự phụ tư nhân.

+ Câu 4: Tác giả lại chuyển giọng nghi vấn “cánh vô thùy” (há ko người nào?) ⇒khẳng định kiên quyết hơn khát vọng sống hiển hách, phi thường, phát huy hết tài năng trí óc hiến dâng cho đời.

→ Tinh thần thâm thúy trình bày vai trò tư nhân trong lịch sử: chuẩn bị đảm trách mọi phận sự nhưng mà lịch sử phó thác.

– Hai câu luận : Quan niệm về nguyên lý hành xử mới của Phan Bội Châu trước vận mệnh non sông

+ Cảnh ngộ non sông: “Non sống đã chết”, non sông đã rơi vào tay giặc

+ Quan niệm mới mẻ, đối lập với các tín điều xưa cũ: tinh thần về lẽ vinh nhục gắn với sự tồn vong của non sông: “sống thêm nhục :

“Hiền thánh còn đâu cũng học hoài”

+ Người cách mệnh cảm nhận sự tồn vong của mình trong mối quan hệ trực tiếp với sự tồn vong của dân tộc ⇒ hành động linh hoạt, luôn tiếp nhận những tư tưởng mới mẻ, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên bậc nhất, đối lập với ý kiến cứu nước bê trễ, lỗi thời của các nhà Nho đương thời.

– Hai cấu kết: Tư thế và khát vọng buổi lên đường

+ Tư thế lên đường của người chí sĩ thật sự hoành tráng:

“Nguyện trục trường phong Đông hải khứ
Tiên trùng bạch lãng nhất loạt phi”

+ Những hình tượng kì vĩ được sử dụng: “trường phong”- ngọn gió dài, mập; “Thiên trùng bạch lãng” (nghìn lớp sóng bạc) ⇒ Tư thế hiên ngang, mong muốn mập lao mang tầm vũ trụ của người cách mệnh.

⇒ Tầm vóc của ý chí con người đã mập lao hơn, ko cam chịu trói mình trong phạm vi, vượt ra ngoài vòng kiểm tỏa

III. Kết bài:

  • Khái quát về những nét rực rỡ nghệ thuật mang đến thành công cho tác phẩm.
  • Khẳng định lại nội dung tư tưởng của tác phẩm và liên hệ về ý chí, khát vọng của con người trong thời đại hiện tại.

Dàn ý phân tách bài Lưu biệt lúc xuất dương

I. Mở bài

– Phan Bội Châu (1867-1940) quê ở Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. 5 1900 đỗ Gicửa ải nguyên. Ông sáng lập ra Hội Duy Tân (1904). 5 1905, kín đáo sang Nhật, dấy lên phong trào Đông Du, tổ chức Việt Nam Quang phục hội. 5 1925, ông bị thực dân Pháp bắt cóc tại Thượng Hải, đưa về Hà Nội với cái án xử tử. Trước sức mạnh chiến đấu của dân chúng ta, chúng đưa ông về giam lỏng ở Huế.

– Là chiến sĩ yêu nước lớn lao, là nhà văn, thi sĩ mập của non sông ta trong thế kỉ 20 – Thơ văn Phan Bội Châu là thơ văn yêu nước và tuyên truyền cổ động cách mệnh sục sôi đầy tâm huyết.

– Bài thơ Lưu biệt lúc xuất dương được Phan Bội Châu viết 5 1905, trong khi chia tay đồng đội, bằng hữu, trước khi kín đáo sang Nhật, dấy lên phong trào Đông Du.

– Bài thơ khẳng định chí làm trai và cố gắng xuất dương, là nên sự nghiệp mập cứu nước cứu dân.

II. Thân bài: Phân tích bài thơ

1. Hai câu đề

– Kẻ đại trượng phu phải mong có điều lạ, tức là chẳng thể sống bình thường nhưng mà phải làm nên sự nghiệp mập. Lưu lại tiếng thơm muôn thuở. Con người đó sống chủ động, hăng hái, có ý thức làm chủ tự nhiên, há để càn khôn tự chuyển dời?

2. Hai câu thực

– Tác giả tự tinh thần về cái Tôi (ngã: tôi, tớ). Rất kiêu hãnh về vai trò của mình trong cuộc đời (1 trăm 5) và trong xã hội, lịch sử (nghìn 5 sau).

– Tác giả hỏi: Chẳng lẽ nghìn 5 sau, lại ko có người nào (để lại danh tiếng) ư? Nhằm khẳng định 1 ý nghĩ lớn lao nhưng mà như người đồng hương của Phan Bội Châu trước đấy nửa thế kỉ đã nhiều lần rồi:

Đã mang tai mang tiếng ở trong trời đất,
Phcửa ải có danh gì với sông núi.

(Nguyễn Công Trứ)

– Quan niệm về công danh, về chí đại trượng phu của Phan Bội Châu mới mẻ, văn minh, hướng về Đất nước và dân chúng, như ông đã viết: Xối máu hot rửa vết nhơ bầy tớ. Tất cả vì nước, vì dân chứ không hề vì nghĩa vua – tôi: “Dân là dân nước, nước là nước dân”.

3. Hai câu luận

– Nêu lên 1 quan niệm sống đẹp của kẻ sĩ trước thời cục và lịch sử dân tộc. Non sông đã chết, 1 cách nói rất hay, cảm động về nỗi đau thương của non sông ta, dân chúng ta đang bị thực dân Pháp thông trị. Trong Hải ngoại huyết thư, tác giả viết: hồn nước chơ vơ. Kẻ đại trượng phu, kẻ sĩ lập công danh trước tiên bằng tuyến đường học hành và thi cử. 1 ý thơ phủ định về cách học cũ kĩ lỗi thời là đọc sách thánh hiền (nho giáo)… cách học đó rất lỗi thời, bất nghĩa, càng học càng ngu, càng u mê. Đây là 2 câu có tư tưởng thâm thúy, văn minh nhất, cho thấy Phan Bội Châu là 1 chí sĩ đi đầu:

Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế,
Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si.

4. Hai cấu kết

– Hình tượng thơ kì vĩ lên 1 chí mập mang tầm vũ trụ. Không phải gió nhẹ nhưng mà là trường phong. Không phải quẩn quanh chốn quan trường hoặc nơi trường ốc chật hẹp, nhưng mà là đi ra biển Đông với 1 sức mạnh phi thường, cùng bay lên với nghìn lớp sóng bạc. Đây là những câu thơ cuốn hút nhất của Phan Bội Châu bộc lộ 1 bầu tâm huyết:

Nguyện trục trường phong Đông hải khứ,
Thiên trùng bạch lãng nhất loạt phi.

III. Kết bài

– Vẫn là thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, bằng chữ Hán. Giọng thơ nghiêm trang, đĩnh đạc hào hùng, mạnh bạo, quyến rũ.

– Thể hiện 1 chí mập phi thường: ko cam tâm làm bầy tớ, quyết đi tìm đường cứu nước. Không phải là khẩu khí nhưng mà sự thực lịch sử đã công nhận Phan Bội Châu đã sống và hành động như thơ ông đã viết ra.

– Lưu biệt lúc xuất dương mang âm điệu người hùng ca, tràn đầy tình yêu nước và cố gắng lên đường cứu nước.

Phân tích tác phẩm Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 1

Phan Bội Châu được coi là 1 trong số những người hùng kiệt xuất có tầm tác động mập đối với cách mệnh Việt Nam trong những 5 đầu của thế kỉ XX. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mệnh của mình ông chưa 1 lần thừa hưởng thú vui thắng lợi nhưng mà tình yêu non sông, khát vọng hòa bình và ý chí chiến đấu của ông luôn là ngọn lửa tiếp thêm tâm huyết, say mê cho nhiều lứa tuổi sau này. Nhưng trước tiên, thơ ca là trận mạc để ông biểu thị điều đó. Lưu biệt lúc xuất dương là 1 bài thơ như thế. Ra đời vào thời khắc, thi sĩ sẵn sàng lên đường sang Nhật để tiến hành chí mập, tác phẩm đã trình bày niềm khao khát mãnh liệt, mong đợi 1 sự nghiệp kinh bang tế thế chỉnh sửa vận mệnh cho sơn hà:

Làm trai phải lạ ở trên đời

Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi

Bài thơ bắt đầu bằng 1 quan niệm rất không xa lạ của Nho giáo: chí làm trai.

Làm trai phải lạ ở trên đời,
Há để càn khôn tự chuyển dời.

Nếu đặt trong mạch nguồn của thơ ca trung đại, việc nói đến tới lý tưởng xã hội này là điều rất dễ thấy. Danh tướng đời Trần Phạm Ngũ Lão và sau này là bậc nho sĩ a ma tơ Nguyễn Công Trứ đã từng nói đến.

Công danh nam tử còn vương nợ,
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu

(Tỏ lòng – Phạm Ngũ Lão)

Đã mang tai mang tiếng ở trong trời đất,
Phcửa ải có danh gì với sông núi.

(Đi thi tự vịnh – Nguyễn Công Trứ)

Cái chí của đấng đại trượng phu ở đây là công, là danh. Họ trông vào đấy nhưng mà kiếm tìm sự nghiệp, khẳng định bản thân mình trước cuộc đời, trước mọi người. Nhưng cách trình bày của Phan tiên sinh trong bài thơ này lại gây 1 ấn tượng mạnh. Cái chí của kẻ làm trai lại trở thành kì vĩ, mập lao. Bởi nó được đặt trong 1 ko gian đặc trưng, đấy là vũ trụ. Nếu nhìn từ ko gian đó, bậc đại trượng phu sẽ còn có nhiều khát khao hơn là công và danh. Chữ lạ trong bản dịch thơ tuy hay nhưng mà chưa làm toát lên được ý nghĩa từ chữ kì trong văn bản gốc. Làm trai phải lạ cần được hiểu là làm được những việc kì dị, kiệt xuất, phi thường. Muốn làm được điều đó, người quân tử phải được đặt trong 1 ko gian chẳng thể là trên đời được, nhưng mà phải là càn khôn. Vì “đời” tưởng rộng nhưng mà hóa ra lại hẹp, mới chỉ là toàn cầu nhân loại, còn “càn khôn” là vũ trụ rộng lớn. Cho nên cái hay trong 2 câu đề là ko gian đó tới câu thứ 2 mới hiện ra, nó làm tôn lên hình ảnh 1 bậc đại trượng phu nam nhi, anh hào dõng dạc hô vang ở câu đầu rằng phải lạ. Có tức là đấng nam tử đâu chỉ trông mong, tiêu cực, phó mặc cho tạo hóa xoay vần, nhưng mà phải chủ động, lao vào chỉnh sửa cả càn khôn, trời đất, cải tạo cả vũ trụ, sơn hà. Mạnh bạo hơn là phải biết sống hiển hách, dám mưu đồ những việc mập, động địa kinh thiên, non sông lâm nguy hoá ra tay cứu nước, chỉnh sửa lịch sử. Cảm hứng sử thi, lãng mạn đã nâng tầm chí làm trai lên 1 dung mạo mới. Đặt trong bối cảnh có mặt trên thị trường bài thơ, hình ảnh đấng đại trượng phu mang tầm vóc vũ trụ đó đã bắt đầu cho 1 khúc khải hoàn ca đầy hùng tráng, phi thường về ý chí và ý thức yêu nước.

Hai câu đề đã mở ra ko gian bao la, tới 2 câu thực lại mang đến độ tối đa chỉ cần khoảng của đời người:

Trong khoảng trăm 5 cần có tớ,
Sau này muôn đời, há ko người nào?

Trong quan niệm chung về đấng đại trượng phu ở trên, Phan Bội Châu đã nêu lên được tinh thần tư nhân đầy khẳng khái của bản thân mình. Tới 2 câu này, tinh thần tư nhân đó càng rõ hơn. Có thể hiểu trong vòng 1 trăm 5 này, chẳng thể thiếu được ta. Ta phải biến thành đối tượng lịch sử, ta có sứ mạng xoay chuyển càn khôn để chỉnh sửa cả gương mặt lịch sử của thế kỉ này. Ta bỗng vút lên giữa cái hết sức bất tận của ko gian và thời kì như thế, bảo sao lại ko nguy nga, lộng lẫy. Chữ tớ dịch khá thú vị, vừa có chút dí dỏm vừa vẫn khẳng định cái tôi đầy mạnh bạo. Tinh thần tư nhân được vươn cao, vươn rộng theo ko gian và còn vươn dài theo cả thời kì nâng tầm nhận thức cao cả về sứ mạng của con người trước lịch sử. Cái tôi như thế thật là vừa lãng mạn vừa hùng dũng!

Xoay chuyển càn khôn, làm chủ lịch sử tưởng hình như đã quá bự tát, đó vậy nhưng mà cái phải lạ của bậc hào kiệt còn khiến người ta bất thần hơn:

Non sông đã chết, sống thêm nhục
Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài.

Trong bối cảnh của sự chuyển giao thời đại, dẫu có mới mẻ tới đâu cũng vẫn phải có sự chỉnh sửa dần dần. Nhưng nhận thức của Phan tiên sinh lại khiến người ta thấy thật phi thường. Đúng quốc gia đã chết là cách nhân hóa rất sống động cho hiện nay của sơn hà. Kẻ địch ngoại quốc chiếm lấy chủ quyền thì coi như non sông đã chết. Câu thơ uất nghẹn trước thực trạng đau thương của dân tộc. Nhưng cái mạnh bạo của đấng đại trượng phu trước Đất nước như thế bắt buộc nhìn thấy sống chỉ thêm nhục. Vì vậy cái cần nhất, cái lý tưởng nhất của 1 thời hiền thánh giờ cũng chẳng còn ý nghĩa, có đọc sách cũng ngu thôi. Vậy là 2 thứ quan trọng đó nhưng mà còn tiếp diễn sống, tiếp diễn học thì chẳng khác nào đã để tự mình phó mặc cho số mệnh, để càn khôn nó tự chuyển dời, để tiếp diễn sống 1 trăm 5 đầy bất nghĩa. Có nhẽ vậy nhưng mà, cuộc đời Phan Sào Nam tuy sống toàn vẹn trong cảnh non sông lầm than, trải qua bao lần thất bại đớn đau nhưng mà ông vẫn góp sức đầy hiển hách, quang vinh. Hai câu thơ đã chứng tỏ 1 sự chuyển mình của thời đại, nếu nói ko quá lên, thật là lớn lao. Nhận ra lẽ vinh nhục trong cảnh non sông đó là thường tình, nhưng mà dám chối bỏ, phủ định cả 1 nền học vấn của 1 kẻ vốn xuất thân từ cửa Khổng, sân Trình như cụ Phan, thì đấy là 1 điều rất phi thường.

Vậy chẳng thể sống như thế với thực tại, muốn mưu đồ việc xoay chuyển càn khôn phải tiến tới hành động. Và hành động đó chỉ có thể là xuất dương.

Muốn vượt bể đông theo cánh gió,
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.

Hai cấu kết thật đẹp! Hình ảnh mô tả có phần ước lệ biểu tượng hình thành 1 cảnh tượng biển trời, gió bão, sóng bạc thật hùng vĩ. Nó làm toát lên cái hùng tâm tráng trí của kẻ sĩ yêu nước cháy bỏng nhưng mà ở câu thơ cuối: thiên trùng bạch lãng nhất loạt phi, bản dịch chưa làm toát lên được. Đúng hơn là biển bát ngát, gió mênh mông, sóng bạc muôn trùng và ý chí, khát vọng của con người cùng nhau hòa quện làm 1 nhưng mà nhất loạt phi (cùng bay lên). Tâm té ra đi cũng bao la, nguy nga như biển trời vậy. Có cái hào sảng, cố gắng, mạnh bạo, tâm huyết lúc lên đường. Người ở lại – bằng hữu bạn hữu, cứng cáp cảm thu được khát vọng, lý tưởng trong hành động kiệt xuất của con người kiệt xuất đó.

Bài thơ khép lại trong 1 niềm hoan hỉ, hứng khởi trào dâng mãnh liệt của nhà chí sĩ cách mệnh trong buổi ra đi tìm đường cứu nước. Sự liên kết đầy mới mẻ giữa cách trình bày đậm chất thơ văn trung đại với những tư tưởng nội dung đậm hơi thở của nhịp sống đương thời đã hình tượng hóa 1 cách lãng mạn và hào hùng của người chí sĩ yêu nước những 5 đầu thế kỉ XX. Giọng thơ tâm huyết, lay chuyển này đã tiếp thêm sức mạnh, đã thổi bùng khao khát cho biết bao kẻ sĩ thời đó có mong muốn tiến hành chí mập vì sự nghiệp dân tộc của mình.

Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương hay nhất – Mẫu 2

Trong nền văn chương Việt Nam có những thi sĩ còn là những nhà chính trị tài 3, những người hùng cứu nước. Giả dụ chúng ta biết tới Hồ Chí Minh, 1 người ko bao giờ tự xưng là thi sĩ nhà văn nhưng mà trong giai đoạn hoạt động cách mệnh lại những vần thơ hay, Tố Hữu cũng là 1 thi sĩ cùng lúc là 1 chiến sĩ chiến đấu cách mệnh thì ta cũng chẳng thể nào ko nói đến Phan Bội Châu. Ông là 1 nhà cách mệnh hết dạ vì sự nghiệp non sông. Cũng giống như Hồ Chí Minh thì Phan Bội Châu cũng có những sáng tác văn chương nhất mực. Trong số những sáng tác của ông phải kể tới bài thơ Xuất dương lưu biệt

Bài thơ này được sáng tác vào cuối thế kỉ XIX, phong trào Cần Vương thất bại, thực dân Pháp chiếm toàn phần Đông Dương. Tình hình chính trị của non sông hết sức hỗn loạn. 5 1905 sau lúc thành lập hội Duy Tân, hội đã chủ trương cho Phan Bội Châu ra nước ngoài hoạt động cách mệnh. Trong bữa cơm chia tay anh em đồng đội để lên đường Phan Bội châu đã làm bài thơ này để thay lời chia tay họ. Bài thơ trình bày rất rõ ý chí làm trai và ý chí của 1 người cách mệnh.

Hai câu thơ đầu trình bày rất rõ chí làm trai của Phan Bội Châu nói riêng và của thời phong kiến khái quát:

“Sinh vi nam tử yếu hy kỳ,
Khẳng hẹn càn khôn tự di chuyển.”

(Làm trai phải lạ ở trên đời
Há để càn khôn tự chuyển dời)

Nhắc đến chí làm trai hẳn người nào trong chúng ta cũng từng biết tới những quan niệm về chí làm trai của Nguyễn Công Trứ và Phạm Ngũ Lão:

“Chí làm trai nam bắc tây đông
Cho phỉ chí người hùng trong 4 bể”

Hay

“Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe thuyết Vũ hầu”

Và tới Phan Bội Châu lại tiếp diễn nêu lên chí làm trai thời phong kiến. Thế nhưng mà trước sự tác động cái mới của thời đại mình thi sĩ đã kế thừa những quan niệm xưa của ông cha và nêu lên những cái mới trong quan niệm chí làm trai của mình. Làm trai thì phải làm những việc lạ tức là làm những việc hiển hách phi thường. Dám làm những việc động địa kinh thiên xoay chuyển đất trời chứ chẳng thể ngồi im để mặc cho đất trời xoay chuyển mình được. Phcửa ải chăng đấy chính là khát vọng sống mãnh liệt của chàng trai đầy tâm huyết với cuộc đời. Cảm hứng đó gần gụi với những triết lý nhân sinh của đạo nho nhưng mà cũng cùng lúc mang nét táo tợn mới mẻ hơn. Con người chúng ta luôn phải chiều theo sự xoay chuyển của trời đất những tác giả ở đây lại chẳng thể để cho càn khôn tự chuyển dời được. Chính vì vậy nhưng mà thi sĩ trình bày được lý tưởng sống của 1 con người khỏe khoắn ngang tàng.

Hai câu thực thi sĩ tiếp diễn đi vào làm rõ chí làm trai của mình. Càng nói ra càng thấy Phan Bội Châu quả là 1 vị người hùng tài năng và đầy khí phách:

“Trong khoảng trăm 5 cần có tớ
Sau này muôn đời há ko người nào?”

Thời gian khoảng trăm 5 là 1 đời con người, tác giả khẳng định trong vòng trăm 5 đó cần có tác giả. 1 đời người hay chính là hiện nay đó phải cần có 1 người hùng với chí làm trai mạnh bạo táo tợn của thi sĩ. Ở đây ta thấy hiện ra cái tôi tư nhân biệt lập. Nhưng ở cái tôi đó ta cảm thu được cái tôi bé nhỏ, tinh thần tư nhân với nhân cách là 1 công dân với ý thức phận sự với non sông mình. Ấy tuyệt nhiên không hề cái tôi ngạo nghễ nghênh ngang. Cái tôi đó được thi sĩ xưng là “tớ” trình bày sự gần gụi. Trong trăm 5 đó 1 bậc nam nhi sống không hề để hưởng hết những lạc thú của cuộc đời nhưng mà để góp sức tài trí của mình cho non sông. Hiện tại có thi sĩ thì sau này chẳng nhẽ lại ko có người nào là người hùng thật sự. Nói như thế thi sĩ như khẳng định những bậc người hùng anh hào nước ta lẽ nào cũng có. Tác giả cũng trình bày được sự kiêu hãnh về bản thân mình. Câu thơ có bề ngoài là 1 câu nghi vấn song bản chất nó có chức năng làm nâng cấp độ ý chí muốn làm những việc mập để góp sức hết mình đất nước thân thương.

Không những thế chí làm trai còn gắn liền với vận mệnh non sông, sự vinh nhục được trình bày rất rõ:

“Non sông đã mất, sống thêm nhục
Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài”

Non sông đã mất trình bày cảnh tượng sơn hà rơi vào tay giặc, tất cả dân chúng phải chịu giai cấp thống trị bầy tớ của giặc, hàng ngày họ phải sống trong cảnh áp bức bóc lột. Đối với 1 bậc lang quân lúc phải sống trong cảnh nước mắt đó thì coi như đã chết rồi. Chính vì vậy nhưng mà ông đưa ra ý nghĩ bỏ sách thánh hiền. Ấy là 1 ý nghĩ táo tợn nhưng mà lại mang sự văn minh. Đối với thi sĩ thì cảnh ngộ non sông như thế ko còn học đạo vua tôi, đạo sơ chung. Bởi vì theo thi sĩ sách thánh hiền lúc đó chẳng giúp ích gì được cho cảnh nước mất nhà tan, nếu cứ bo bo ôm giữ thì chỉ là ngu nhưng mà thôi. Tuy nhiên không hề thi sĩ phủ nhân hết những ích lợi của sách thánh hiền, nếu nói như thế chẳng khác nào cha ông ta ngu lúc đọc sách đấy. Nhưng điều tác giả muốn khẳng định là lúc đó đọc sách thánh hiền ko có tác dung và không liên quan với tình cảnh non sông.

Từ những ý niệm về chí làm trai lúc sống là 1 bậc lang quân trên cuộc đời, cộng với những diễn biến phức tạp của lịch sử Phan Bội Châu trình bày ước vọng và mong muốn của mình:

“Muốn vượt bể Đông theo cánh gió
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.”

Hình ảnh đó “bể đông theo cánh gió” và “muôn trùng sóng bạc” là 2 hình ảnh mang thuộc tính hào hoa lãng mạn trình bày được khao khát cao đẹp mãnh liệt của thi sĩ. Phan Bội châu muốn vượt lên thực tại ám muội của non sông để cố gắng lên đường làm nghiệp mập bảo vệ cho non sông cũng chính là bảo vệ cho sự sống còn và vinh nhục của chí làm trai. Nhà thơ muốn vượt bể Đông để theo cánh gió, cái cánh gió đó sẽ đưa ông tới những mảnh đất tân tiến ở đấy ông sẽ học tập và đem những gì mình học được về cứu non sông. Muôn trùng sóng bạc như đưa chân người người hùng đi làm chí mập.

Tóm lại cả bài thơ là 1 quan niệm chí làm trai của Phan Bội Châu. Đối với ông chí làm trai đó phải làm được những điều hiển hách được ghi tên trong bảng vàng lưu danh muôn thuở. Vận mệnh của chí làm trai gắn liền với vận mệnh của non sông. Với giọng điệu hào hùng nghiêm trang, cách sử dụng từ ngữ thu hút quyến rũ bài thơ hiện lên như 1 bài ca hào hùng về chí làm trai. Nó nghe đâu tiếp sức cho Phan Bội Châu đi trên tuyến đường cứu nước.

Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 3

Phan Bội Châu được nói đến là người trước hết trong lịch sử Việt Nam có tinh thần dùng văn học để di chuyển, tuyên truyền cách mệnh. Ông cũng chính là người khơi dòng cho loại văn học trữ tình chính trị. Trong đấy, bài thơ ” Lưu biệt lúc xuất dương ” là 1 tác phẩm điển hình.

Đây là bài thơ được viết trong bữa cơm ngày Tết nhưng mà Phan Bội Châu đã tổ chức ở nhà mình để chia tay với các bằng hữu, đồng đội trước khi lên đường sang Nhật Bản 5 1905. “Lưu biệt lúc xuất dương” đã trình bày ý nghĩ mập lao, mới mẻ đầy phận sự của tác giả, trình bày niềm hăm hở, cố gắng cao độ trong buổi đầu vượt biển đi ra nước ngoài để “mưu sự phục quốc”.

Chí làm trai đã được nói đến trong văn chương từ thời xa xưa nhưng mà đặc trưng được đề cao ở thời gian cơ chế phong kiến, thời gian đạo Nho tăng trưởng mạnh bạo. Nam nhi phải có công danh, sự nghiệp thì mới đáng làm trai. Chẳng vậy nhưng mà trong bài thơ “Tỏ lòng”, Phạm Ngũ Lão đã viết:

“Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”

Hay Nguyễn Công Trứ cũng từng viết:

“Chí làm trai nam, bắc, tây, đông
Cho phỉ sức tung hoành trong 4 bể”.

Muốn biến thành bậc đại trượng phu được mọi người xác nhận thì phải biết cố gắng, lập được công tích, có được danh vọng, có sức vóc “tung hoành” khắp 4 bể để chứng minh tài năng, khả năng của bản thân. Kế thừa tư tưởng đó của Nho giáo, Phan Bội Châu đã đưa ra 1 ý kiến về chí làm trai như 1 tuyên ngôn đầy khí thế:

“Sinh vi nam tử yếu hi kỳ,
Khẳng hẹn càn khôn tự di chuyển”.

Trước hết, ông cho rằng, làm trai phải “lạ”, có tức là phải sống khác mọi người, ko được giống với bất kì người nào để hình thành điểm biệt lập. “Lạ” cũng có tức là điều phi thường, hiển hách, xoay chuyển cả trời đất. Ấy là lối sống chủ động, ko chùn bước, nản lòng để mặc cho tình cảnh chi phối nhưng mà phải có khả năng để chi phối tình cảnh. Nhân vật trữ tình dám đương đầu với càn khôn, đất trời, vũ trụ để tự khẳng định bản thân, cố gắng đạt được giấc mộng công danh. Phan Bội Châu ấp ôm khát vọng xoay chuyển được càn khôn chứ ko để “càn khôn tự chuyển dời”. Ông ko đầu hàng, khuất phục trước số mệnh, tình cảnh nhưng mà dùng chính bản lĩnh của mình để chỉnh sửa tình cảnh. Có thể nói, chí làm trai của ông là chí làm trai của 1 đấng đại trượng phu hiên ngang trong vũ trụ, dám ngão nghệ và thử thách với trời đất.

Con người mang tầm vóc mập lao, tầm vóc vũ trụ đó luôn mang trong mình tinh thần, phận sự của tư nhân trước thời cục:

“Ư bách niên trung tu hữu ngã,
Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy”

Trong cuộc đời trăm 5 hữu hạn, Phan Bội Châu muốn góp sức sức mình cho non sông, làm nên những công tích phi thường, mập lao để xứng đáng làm 1 đại trượng phu lưu danh vào thiên cổ nghìn 5. Tác giả đã tự khẳng định bản thân mình, đây là cái tôi mang đầy phận sự, chủ động hăng hái chứ không hề cái tôi vị kỉ, chỉ biết lo nghĩ cho ích lợi của tư nhân. Ở 2 câu thực có sự đối nhau hài hòa giữa sự vô bờ của thời kì và sự hữu hạn của đời người, Phan Bội Châu dùng cái phủ định để làm nền, làm nổi trội lên điều ông khẳng định. Ông muốn làm những điều phi thường, lưu lại danh tiếng của mình trong sử sách để ko hổ hang với chí làm trai nhưng mà mình đã lấy làm lí tưởng sống. Hiến dâng cho đời vừa là trách nhiệm vừa là phận sự của bậc lang quân. Trong 1 trăm 5 hữu hạn đó, người đại trượng phu phải tiến hành được chí làm trai và cũng trong nghìn 5 sau đấy phải để lại được tiếng thơm cho đời. Hai câu thơ như lời giục giã khơi dậy ý thức lao vào vì nghĩa mập của con người, đặc trưng là những thanh niên trai tráng phải góp vô cùng mình vào công cuộc cứu nước, tìm ra hướng đi mới cho dân tộc.

Gắn với tình cảnh thực tại của non sông, Phan Bội Châu đã nêu lên phận sự nhưng mà người đại trượng phu cần có đối với vận mệnh dân tộc:

“Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế,
Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si

Quốc gia bị xâm lăng, quốc gia cũng ko còn nữa thì ta có sống cũng chỉ chuốc lấy sự điếm nhục, ê chề. Sách vở, người có học vấn cũng biến thành bất nghĩa lúc chủ quyền non sông bị xâm phạm. Nhiệm vụ giải phóng dân tộc được ông đặt lên bậc nhất bởi ông tinh thần được thời cục. Sách vở cũng ko có ý nghĩa gì lúc nước mất nhà tan. Việc làm quan trọng và thiết thực nhất khi bấy giờ là tìm được tuyến đường, hướng đi cho non sông để thoát khỏi sự xâm lăng, bóc lột của thực dân Pháp. Phan Bội Châu là 1 người tình nước và ông cũng mong rằng phong trào Đông du do mình chỉ huy sẽ gặt hái được nhiều thành tựu giúp ích cho sơn hà. Kế bên đấy, 2 câu luận cũng có ý nghĩa thức tỉnh những con người có tấm lòng yêu nước. Đây cũng là khi để họ xoay chuyển càn khôn, xoay chuyển cục diện, tình hình của dân tộc.

Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 4

Phan Bội Châu (1867-1940), ôi cái tên đẹp 1 thời. “Chúng ta có thể nói rằng trong lịch sử giải phóng dân tộc của dân chúng Việt Nam, trước Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phan Bội Châu là 1 đối tượng lớn lao” (Tôn Quang Phiệt). Phan Bội Châu là vong linh của các phong trào di chuyển giải phóng Đất nước khoảng 25 5 đầu thế kỉ XX. Danh tiếng ông gắn liền với các tổ chức yêu nước như Hội Duy Tân, phong trào Đông du, Việt Nam Quang Phục Hội. Danh tiếng Phan Bội Châu gắn liền với hàng trăm bài thơ, hàng chục cuốn sách, 1 số bài văn tế và vài 3 vở tuồng tràn đầy tình yêu nước. “Phan Bội Châu câu thơ dậy sóng” (Tố Hữu).

5 1900, Phan Bội Châu đậu hương nguyên khoa thi Hương trường Nghệ 5 1904 ông sáng lập ra Hội Duy Tân, 1 tổ chức yêu nước. 5 1905 ông dấy lên phong trào Đông du. Theo chủ trương của Duy Tân hội do chính ông sáng lập, ông khởi đầu sang Nhật để tìm đường cứu nước. Bài thơ “Xuất dương lưu biệt” ông làm tặng các đồng đội trong buổi đầu lên đường. Có thể nói bài thơ này như 1 mốc son chói lọi trong sư nghiệp giải phóng dân tộc của nhà chí sĩ Phan Bội Châu.

“Xuất dương lưu biệt” được viết bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, là khúc ca bộc lộ tư thế, cố gắng hăm hở, và những ý tưởng cao cả mới mẻ của chí sĩ Phan Bội Châu trong buổi đầu xuất dương cứu nước.

Hai câu để là 1 tuyên ngôn về chí hướng, về lẽ sống cao cả:

“Sinh vi nam tử yếu hi kì
Khẳng hẹn càn khôn tự di chuyển”

Kiêu hãnh mình là đấng đại trượng phu thì phải sống cho ra sống, mong muốn làm nên “điều lạ” (yêu hi kì). Suy rộng ra, là chẳng thể sống bình thường. Không thể sống 1 cách tiêu cực cho trời đất (càn khôn) “tự chuyển dời” 1 cách vô vị, nhạt nhẽo. Câu thơ trình bày 1 tư thế, 1 tâm thế đẹp về chí đại trượng phu, tự tin ở chừng độ, tài năng của mình muốn làm nên sự nghiệp bự mập, xoay chuyển trời đất, như ông đã nói rõ trong 1 bài thơ khác:

“Dang tay ôm chặt bồ kinh tế,
Mở mồm cười tan cuộc ân oán thù”.

Gắn câu thơ với sự nghiệp cách mạnh hết sức sôi nổi của Phan Bội Châu, ta mới cảm thu được cái khẩu khí người hùng của nhà chí sĩ lớn lao. Đấng đại trượng phu muốn làm nên “điều lạ” ở trên đời, từng nấu nung và tâm niệm theo 1 vần thơ cổ:

“Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch,
Lập thân tối hạ thị văn học

(“Tùy viên thi thoại” – Viên Mai)

Đấng đại trượng phu muốn làm nên “điều lạ” ở trên đời đó có 1 “bầu máu hot” sục sôi: “Tôi được trời phú cho bầu máu hot cũng ko tới nỗi ít, khi còn nhỏ đọc sách của cha tôi, mỗi lúc đèn những chỗ nói người xưa chịu thuế để thành đạo nhân, nước mắt lại tầm tã bé xuống ướt đầm cả giấy…” (Ngục trung thư).

Phần thực, ý thơ được mở mang, tác giả tự khẳng định vai trò của mình trong xã hội và trong lịch sử:

“Ư bách niên trung tu hữu ngã
Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy”

“Ngã” là ta: “tu hữu ngã” tức là phải có ta trong cuộc đời “1 trăm 5 ” (bách niên trung). Câu thơ khẳng định, bộc lộ niềm kiêu hãnh mập lao của kẻ sĩ trong cảnh nước mất nhà tan. “Thiên tải hậu” ngàn 5 sau, là lịch sử của non sông và dân tộc há lại ko có người nào (để lại danh tiếng) ư? Hai câu 3, 4 đối nhau, lấy cái phủ định để làm nổi trội điều khẳng định. Ấy là 1 ý thơ thâm thúy trình bày vai trò tư nhân trong lịch sử: chuẩn bị đảm trách mọi phận sự nhưng mà lịch sử phó thác. Ý nghĩ xinh xắn này là sự kế thừa những tư tưởng lớn lao của các vĩ nhân trong lịch sử:

“… Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, ngàn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng”.

(“Hịch tướng sĩ’ – Trần Quốc Tuấn)

“… Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh”.

(Văn Thiên Tường)

Lấy cái hữu hạn “bách niên” của 1 đời người đối với cái vô bờ “thiên tải” của lịch sử dân tộc. Phan Bội Châu đã hình thành 1 giọng thơ đĩnh đạc, hào hùng, bộc lộ 1 cố gắng và khát vọng trong buổi lên đường. Vì vậy, trên bước đường cách mệnh giải phóng dân tộc, trải qua vô vàn thách thức và gian nguy, ông vẫn quật cường, sáng sủa.

Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 5

Phan Bội Châu nhà yêu nước, người hùng giải phóng dân tộc lừng danh trong lịch sử đương đại Việt Nam, Phan Bội Châu chính là người chủ xướng các phong trào giải phóng Đất nước trong những 5 đầu thế kỉ XX như Hội Duy Tân, phong trào Đông du, Việt Nam Quang Phục Hội. Danh tiếng của ông cũng lừng danh với nhiều bài thơ, cuốn sách, bài văn tế…Phan Bội Châu luôn mang trong mình lý tưởng, khát vọng giải phóng dân tộc và xây dựng non sông dân chủ văn minh.

“Lưu biệt lúc xuất dương” được viết bằng chữ Hán, thể thất ngôn bát cú Đường luật, bài thơ trình bày vẻ đẹp lãng mạn, hào hùng trong đầu thế kỉ XX : táo tợn, tâm huyết lý tưởng giải phóng dân tộc luôn dâng cao. Ông đã cho người đọc thấy được ko khí cách mệnh sôi sục quá trình đầu thế kỉ XX của những con người tình nước và văn minh của sơn hà.

Mở màn bài thơ như là 1 tuyên ngôn lí tưởng:

“Sinh vi nam tử yếu hi kì,
Khẳng hẹn càn khôn tự di chuyển.”

Làm trai trong trời đất chẳng thể sống bình thường, ko được sống tiêu cực cho trời đất “tự chuyển dời”. Câu thơ bắt đầu đã trình bày tư thế, ý chí đại trượng phu, tài năng của người cách mệnh mong muốn làm nên sự nghiệp mập, xoay chuyển trời đất.

Tiếp tục bài thơ tác giả khẳng định:

Ư bách niên trung tu hữu ngã,
Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy.

Tác giả đã khẳng định mạnh bạo và đầy khí phách về sức mạnh con người trước càn khôn. Sự đề cao cái Tôi của thi sĩ chính là khẳng định phận sự của người thanh niên yêu nước đối với vận mệnh dân tộc. Câu thơ cũng khiến cho nhiều người giác ngộ và khêu gợi sự ý thức chiến đấu. Tác giả Phan Bội Châu như muốn ra công kêu gọi sự đấu tranh của những con người tình nước.

Những đoạn thơ trước hết tác giả đã khẳng định chí đại trượng phu, đoạn sau nói về phận sự của đại trượng phu:

Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế,
Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si

Khi non sông đang bị xâm chiếm, quốc gia đã chết, ta sống chỉ thêm sự điếm nhục, đớn đau. Trong tình cảnh nước mất nhà tan, người học có vùi mài kinh sử cũng trở thành bất nghĩa. Vào thời khắc đấy, ý muốn ra đi tìm đường cứu nước là lí tưởng của thời đại. Câu thơ trên ko có ý chê bai việc học nhưng mà chỉ có ý khuyên con người ta phải sống với thời cục trước mắt. Câu thơ trên còn trình bày nỗi đau của tác giả trong khi non sông suy vong, nhân dân lầm than, đạo đức xã hội xuống cấp đã khiến con người có phận sự với dân tộc trông thấy nhưng mà lòng quặn đau.

Đoạn kết của bài thơ Lưu biệt lúc xuất dương đã trình bày cố gắng, ý chí , hi vọng mập của tác giả trên tuyến đường mình đã chọn:

Nguyện trục trường phong Đông hải khứ,
Thiên trùng bạch lãng nhất loạt phi.

Giọng thơ sôi sục, ngập tràn hi vọng và cố gắng đi tới nước Nhật để tìm tuyến đường cứu nước. Hình ảnh chấm dứt bài thơ hết sức mạnh bạo, hào hùng, đấy là sự khí phách của con người bắt kịp với thời đại mới. Với hi vọng về tương lai tươi sáng hơn.

Bài thơ giọng điệu hào hùng, từ ngữ thu hút là 1 bài ca hào hùng về chí làm trai nguyện lao vào mình vào sự nghiệp cứu nước của dân tộc. Bài thơ mãi là tấm gương nhưng mà thiên hạ luôn noi theo.

Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 6

5 1858 thực dân Pháp xâm lăng Việt Nam chúng thi hành cơ chế bóc lột sức lao động, đàn áp các cuộc chiến đấu của dân chúng ta trong bể máu, làm cho lòng dân hết sức căm thù. Chính điều đấy đã thôi thúc các nhà yêu nước nấu nung tuyến đường giải phóng dân tộc. Tiêu biểu trong thời gian đầu là Phan Bội Châu Ông vừa là nhà cách mệnh yêu nước cùng lúc là 1 nhà văn hóa mập. Ông để lại nhiều trứ tác trên nhiều lĩnh vực trong đấy thi ca chiếm 1 nội dung quan trọng. Nổi trội trong thơ của Phan Bội Châu là bài “Lưu biệt lúc xuất dương”. Bài thơ đã lưu lại tình cảm, xúc cảm của tác giả khi từ giã trước lúc sang Nhật cùng lúc trình bày ý thức, ý chí cố gắng cứu nước của người chiến sĩ cách mệnh.

“Lưu biệt lúc xuất dương” được Phan Bội Châu sáng tác lúc khát vọng cứu nước đang tiến hành 1 cách thuận tiện, hội Duy Tân vừa mới được thành lập lúc đấy ông chủ trương đưa 1 số thanh niên Việt Nam có ý chí, ý thức ham học hỏi sang Nhật học thực tập tân tiến, khoa học của họ để về giúp nước giúp dân. Đây là 1 tư tưởng văn minh nhưng mà lịch sử lại ko tuyển lựa do còn phạm phải những sai trái, không những thế điều đấy đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm cho dân tộc.

Bài thơ được viết bằng chữ Hán theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật với bố cục rõ ràng, mạch lạc theo cấu trúc đề-thực-luận-kết trình bày được cái “chí” của thi sĩ. Hai câu thơ đầu là quan niệm mới mẻ về chí làm trai và tư thế, tâm thế, tầm vóc của con người trong vũ trụ.

“Sinh vi nam tử yếu hi kì
Khẳng hẹn càn khôn tự di chuyển”

Chí làm trai của đấng đại trượng phu phải có khát vọng, hoài bão mập lao, phải làm được việc hiếm việc lạ ở trên đời. Tư tưởng này đã được kế thừa của các tiền nhân như Phạm Ngũ Lão trong bài thơ “Thuật hoài” có viết: “Nam nhi vị liễu công danh trái/ Tu thính trần gian thuyết Vũ hầu”. Chính vì cái lẽ đó nhưng mà ko chịu để cho trời đất tự chuyển dời trình bày tầm vóc mập lao của con người trong vũ trụ rộng lớn như tư thế “hoành sóc” (cầm ngang ngọn giáo) hiên ngang của người nam tử. Gắn với bối cảnh của thời đại, thực tiễn của non sông khi bấy giờ chí làm trai theo Phan Bội Châu phải xoay chuyển được “càn khôn” chủ động lập lại thời thế ko chịu bằng lòng nỗi nhục mất nước, ko chịu làm bầy tớ.

Giả dụ 2 câu thơ đầu là tuyên ngôn về chí làm trai với tư tưởng muốn bứt phá ra khỏi giới hạn nhỏ mọn của bản thân, mong muốn cứu nguy cho dân tộc cùng lúc khẳng định vị thế của mình trong trời đất thì 2 câu thực nói về tinh thần phận sự của tư nhân trước thời cục.

“Ư bách niên trung tu hữu ngã
Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy”

Trong câu 3 đối với câu 4 lấy cái hữu hạn của “bách niên” để đối với cái vô bờ của “thiên tải”, lấy cái phủ định để khẳng định ý chí cố gắng của tác giả cho thấy vai trò, sự chủ động của tư nhân trước bối cảnh lịch sử. Ở trong vòng trăm 5 (trong vòng thời kì của đời người) cần phải có phải có ta. Ta phải làm việc mập, đảm trách việc đời của thời đại mình thì trăm 5 sau mới có lứa tuổi khác. Nếu ko sau này “hát ko người nào?”đây là 1 câu nghi vấn, hỏi nhưng mà cũng là để tự mình giải đáp, tự mình trình bày mình. Điều đấy cho thấy ý thức tự nhiệm, tự mình của tác giả cùng lúc cũng khẳng định sự nối liền lứa tuổi người hùng của dân tộc “Tuy mạnh yếu từng khi không giống nhau/ Song anh hào thời nào cũng có”.

Để minh chứng cho tuyến đường cứu nước của mình là đúng mực ở 2 câu luận tác giả nêu lên cảnh ngộ của non sông và chỉ ra những điều xưa cũ ko còn thích hợp với thời đại mới.

“Giang sơn tử hĩ sinh đồ huế
Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si”

“Non sông đã chết” dân tộc đã bị xâm chiếm, non sông đã mất chủ quyền sống cũng chỉ thêm điếm nhục. Câu này tác giả nhắc đến lẽ sống và cái chết để khẳng định lí tưởng sống có tức là phải lật lại “càn khôn”, lấy lại hồn nước, khiến cho dân tộc được độc lập tự do. “Hiền thánh”ở đây chỉ Nho học. Nó đã ko còn nữa, phải gác nó lại theo học cái học thực tiễn để cải cách non sông. Có người nói Phan Bội Châu phủ nhận vai trò của Nho giáo, điều này là ko đúng bởi ông cũng xuất thân nơi “Cửa Khổng sân Trình” nhưng mà bối cảnh thời đại hiện thời Nho giáo trở thành lỗi thời, lạc hậu cần chỉnh sửa. Chữ “hoài” trong bản dịch thơ chưa trình bày được thực chất “si” (U mê, mê muội 1 điều gì đấy mất lí trí) trong nguyên tác. Hai câu thơ là lời nhắn nhủ của tác giả tới lứa tuổi trẻ phải đổi mới quan niệm, tư tưởng ko nên theo lối mòn, sáo rỗng ko có lợi cho sự nghiệp cứu nước.

Hai cấu kết trình bày khát vọng hành động cứu nước, khắc họa tư thế hiên ngang, hào hùng của con đứa ở buổi lên đường:

“Nguyện trục trường phong Đông hải khứ
Thiên trùng bạch lãng nhất loạt phi”

Ở câu thơ thứ nhất mang 2 nét nghĩa trừu tượng và chi tiết. Với nét nghĩa trừu tượng trình bày mong muốn vượt lên chính mình, vượt qua giới hạn bản thân làm nên việc lạ ở trong vòng trăm 5. Với nét nghĩa chi tiết để chỉ phong trào Đông Du, chỉ những người thanh niên yêu nước mong muốn học tập cái mới để giúp nước. Tuy nhiên bản dịch thơ trong sách giáo khoa từ “Cánh gió” chưa lột tả được khí sắc của “trường phong” là cơn gió mập, cơn gió dài nó là sự cố gắng, quyết liệt ra đi cứu nước của tác giả. Câu cuối “nhất loạt phi” là cùng bay lên ở đây là chỉ con sống hay chỉ khát vọng của tác giả hay chỉ cả 2 khát vọng của ta cộng với hàng nghìn con sóng cùng bay lên giữa biển khơi bao la. Theo em cách hiểu thứ 3 là có lí vì tác giả “xuất dương” mang trong mình hoài bão mập lao. Hai cấu kết với 2 hình ảnh kì vĩ “trường phong” và “thiên trùng bạch lãng”khiến cho chí khí, tư thế của người chiến sĩ vượt lên thực tại ám muội với đôi cánh của lí tưởng cách mệnh vươn ngang tầm vũ trụ được trình bày qua vị ngữ “nguyện trục”, “nhất loạt phi” khiến ta liên tưởng tới 2 câu thơ trong “Hành lộ nan” (Đi đường khó) của Lí Bạch: “Trường phong phá lãng hội hữu thì/ Trực quải vân phàm tế thượng hải” (Cưỡi gió vượt sóng ắt có khi/ Dòng thẳng buồm mây vút bể xanh).

“Lưu biệt lúc xuất dương” trình bày được lí tưởng cứu nước cao cả, tâm huyết sôi sục với tư thế xinh xắn và khát vọng lên đường cháy bỏng của người chiến sĩ cách mệnh trong buổi đầu cứu nước. Về nghệ thuật bài thơ được tuân theo luật bằng, đúng niêm, đúng luật của thể thơ đã được quy ước, không những thế có nét cải cách đổi mới điều đấy được trình bày ở đại từ “Ngã” (ta). Ở trong thơ trung đại cái tôi tư nhân bị lu mờ, ít thấy tác giả hiện ra trực tiếp do người trung đại ko coi mình là trung tâm nhưng mà chỉ là 1 bộ phận trong chỉnh thể mập.Nhưng ở đây tác giả đã tự tin trình bày khả năng, chí hướng, khát vọng, cố gắng của con người trong thời đại mới. Sử dụng tiếng nói cường điệu với hình ảnh kì vĩ, lãng mạn trình bày được cái chí của mình.

Vần thơ đã khép lại xưa nay nay nhưng mà hồn thơ, khí sắc của bài thơ cộng với hình ảnh của 1 Phan Bội Châu cố gắng, hăm hở, chủ động ra đi tìm đường cứu nước đã để lại tiếng vang, tác động sâu rộng trong lịch sử. Phan Bội Châu chẳng những về sự nghiệp di chuyển giải phóng dân tộc là 1 đối tượng điển hình cho quá trình chống Pháp của dân chúng Việt Nam đầu thế kỉ XX nhưng mà còn là thi sĩ, nhà văn với những đóng góp có trị giá cho nền văn chương sơn hà.

Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 7

Phan Bội Châu là 1 nhà văn hóa mập, 1 nhà chính trị, “1 đối tượng lớn lao”, có nhiều hoạt động văn minh đầu thế kỷ XX, ông được biết tới với vai trò là vị lãnh tụ điển hình nhất trong các phong trào chiến đấu giải phóng dân tộc đầu thế kỷ trước. Đặc thù nổi trội với tư tưởng giải phóng dân tộc theo tuyến đường của các nước tư bản chủ nghĩa, mặc dầu sau đấy thất bại nhưng mà cũng đã mở ra 1 cách nhìn mới về việc làm cách mệnh cho lứa tuổi đi sau trong đấy có Hồ Chí Minh. Nhìn chung ở đời cách mệnh, cũng như giai đoạn hoạt động cách mệnh ở Phan Bội Châu có sự liên kết lạ mắt và vang dội giữa 2 bình diện chính trị và văn hóa, điều đấy gần giống như Nguyễn Trãi hơn 400 5 về trước và Hồ Chí Minh của vài 5 sau đấy. Ngoài sự nghiệp chính trị nổi trội, thì Phan bội Châu cũng có 1 sự nghiệp văn học khá khổng lồ, ông có thể được xem là người đã mở đường cho nền văn chương cách mệnh Việt Nam với chất chính trị và trữ tình liên kết chặt chẽ ăn rơ trong nhiều tác phẩm. Lưu biệt lúc xuất dương chính là 1 tác phẩm mang đầy đủ cá tính sáng tác đó của Phan Bội Châu, cộng với tình cảnh có mặt trên thị trường đặc trưng gắn liền với sự chuyển biến trong tư tưởng cách mệnh của Phan Bội Châu.

Sở dĩ nói Lưu biệt lúc xuất dương là bài thơ gắn liền với sự chuyển biến trong tư tưởng cách mệnh của Phan Bội Châu, bởi bài thơ được sáng tác vào 5 1905, trước ngày ông lên tàu cùng 1 số thanh niên ưu tú khác sang Nhật tìm đường cứu nước. Bài thơ là sự khích lệ, cổ vũ cổ vũ ý thức đầy hào khí dành cho những con người mang tư tưởng, tráng chí tốt đẹp ra đi vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, dẫu biết có nhiều gian truân trắc trở. Cũng lại là 1 tác phẩm gợi mở, hướng những con đứa ở lại, hướng dân chúng ta về 1 niềm tin rằng nay mai non sông sẽ tốt đẹp hơn, tươi sáng hơn, biểu thị nhưng mà ý chí, cố gắng, tư tưởng văn minh của 1 nhà nho yêu nước, 1 vị lãnh tụ hết dạ vì dân tộc.

Như Nguyễn Ái Quốc đã viết trong tác phẩm chính luận Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu của những lời tán tụng dành cho cụ Phan đầy thâm thúy và trân trọng rằng: “1 bậc người hùng, 1 vị thiên sứ được 2 mươi triệu đồng bào trong khoảng bầy tớ tôn kính”. Điều đấy đủ để thấy rằng ở Phan Bội Châu là tụ hội những vẻ đẹp quý giá của 1 tư cách mập, 1 tư tưởng mập hòa quyện giữa ý thức của 1 nhà nho và 1 chí sĩ cách mệnh theo thiên hướng tư bản (thậm chí còn có tí đỉnh thiên hướng chủ nghĩa xã hội). Trong Lưu biệt lúc xuất dương, vẻ đẹp tư cách, tư tưởng của Phan Bội Châu biểu thị từ 2 câu thơ đầu, nhưng mà có thể đặt cho nó cái tên là chí làm trai trong thời đại mới.

“Làm trai phải lạ ở trên đời
Há để càn khôn tự chuyển dời”

Cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX trong lịch sử sơn hà là 1 quá trình đầy bất định dữ dội, tháng 1/8/1958, Pháp nổ phát súng trước hết chính thức xâm lăng nước ta lần thứ nhất, khi mà đấy triều đình nhà Nguyễn hèn yếu, cơ chế phong kiến thối nát, có nguy cơ sụp đổ, ko đủ sức để đứng lên chỉ huy dân chúng chống giặc ngoại xâm như các lứa tuổi ông cha đi trước. Các nhà nho yêu nước, thương dân nhưng mà bất lực trước thời cục, thất vọng nên tìm cách thoái ẩn, lẩn tránh cuộc đời. Chỉ riêng Phan Bội Châu, là 1 trong số ít các nhà nho có nhiều hoạt động sôi nổi trong các phong trào nổi dậy chống ngoại xâm. Bởi cụ Phan có 1 tư cách văn hóa mập, người tiếp thu các thiên hướng chính trị 1 cách nhiều chủng loại, nhiều chiều, là người trực tiếp tham dự các phong trào Cần Vương và 1 số phong trào khởi nghĩa truyền thống, Phan Bội Châu tuy là 1 nhà nho chính thống, nhưng mà lại sớm nhìn thấy những yếu điểm và sự lạc hậu của các phong trào này. Phan Bội Châu nhận thấy thiết yếu 1 sự canh tân mới, 1 tuyến đường mới cho cách mệnh Việt Nam, người coi xét cơ chế quân chủ lập hiến, rồi rốt cuộc quyết định giải phóng dân tộc theo tuyến đường nhưng mà các nước tư bản chủ nghĩa đã làm và rất thành công điển hình đấy là Nhật Bản. Từ đấy phong trào Đông Du có mặt trên thị trường, với 1 kì vọng cải biến được tình hình hỗn loạn như rắn mất đầu của các phong trào khởi nghĩa lẻ tẻ trong nước. Phan Bội Châu có thể xem là 1 vị người hùng biết thời biết thế, với ông trong 1 bối cảnh mới thì tư cách của nhà nho vẫn phải giữ, nhưng mà phải cải biến làm sao cho ko bị lỗi thời, nhưng mà phải đồng nhất, đuổi kịp với thời cục. Trong đấy chí đại trượng phu là điều cốt tử của 1 nhà nho yêu nước. Phan Bội Châu quan niệm “Làm trai phải lạ ở trên đời”, chữ “lạ” ở đây nghĩa là thân đại trượng phu chí ở 4 phương, phải tạo cho mình sự dị biệt, nổi trội hẳn lên ở các bình diện sự nghiệp, tư tưởng, mang trong mình những khao khát, hoài bão cao đẹp và cố gắng hết mình tiến hành chúng. Đã là nam nhân thì ko cam chịu 1 cuộc sống phổ biến, an ổn, quẩn quanh bên cái ao, nắm thóc, con gà, vừa lòng với cuộc sống điền viên nữ nhi thường tình nhưng mà phải cố gắng gây dựng sự nghiệp mập, công danh mập. Nếu như thuở trước người trai mài miệt đèn sách, quyết thi cử lấy công danh làm rạng rỡ tổ tiên hoặc là tòng quân chinh chiến sa trường, bảo vệ biên thuỳ, để trả mối nợ nước. Thì nay trong thời đại đầy bất định, người đại trượng phu lại thiết yếu ý chí, chỉnh sửa tư tưởng của bản thân để trả món nợ công danh cho non sông, chứ không hề bất lực, lẩn tránh như nhiều nhà nho đương thời, vì sự câu chấp, thủ cựu lỗi thời ôm bo bo quan niệm Nho học đã lạc hậu để khóc than, xót thương. Quan niệm chí làm trai đó của Phan Bội Châu lại càng được biểu thị rõ trong câu thơ tiếp theo “Há để càn khôn tự chuyển dời”. Câu thơ đó đã biểu thị sự mạnh bạo, ý chí quả quyết, thử thách cả vũ trụ, trình bày tầm vóc bự mập của thi sĩ trước cán cân tạo hóa, Phan Bội Châu khẳng định vận mệnh của bản thân phải do chính bản thân mình nắm giữ, cùng lúc ý thơ còn chỉ ra tráng chí, lý tưởng chỉnh sửa “càn khôn” của tác giả. Nhưng thực tiễn “càn khôn” ở đây chung quy vẫn là chỉ tới sự bất định của thời cục, giặc Pháp xâm lăng và cơ chế phong kiến đổ nát, khiến non sông lầm than, nhiễu loạn. Phan Bội Châu ko can tâm, ko đành lòng trông thấy cảnh đau thương đó, người phải làm gì đấy cho Đất nước, cho dân tộc chứ không hề là đứng yên bất lực hay rơi lệ xót thương.

“Trong khoảng trăm 5 cần có tớ
Sau này muôn đời há ko người nào”

Tới 2 câu thơ tiếp theo chính là tinh thần của tác giả về vai trò của bản thân lúc đứng trước thời cục, trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng non sông. “Khoảng trăm 5” là 1 cụm từ rất hay mang nhiều lớp nghĩa không giống nhau, trước là để ám chỉ về khoảng thời kì đầy bất định của non sông quá trình cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, lúc giặc Pháp xâm lăng, triều đình bất lực, cộng với sự nổ ra lẻ tẻ và sự thất bại của các phong trào khởi nghĩa truyền thống. Ấy là khoảng thời kì khủng hoảng nhất trong lịch sử dân tộc diễn ra từ lúc non sông giành được quyền độc lập tự chủ từ tay giặc phương Bắc 5 938. Bản thân Phan Bội Châu sinh ra đúng khi non sông đầy đau thương, thế nên với nhân cách là 1 bậc nam nhi, ông tự tinh thần được phận sự của mình dành cho non sông. Tạo hóa đã đặt con người ta vào nghịch cảnh, cuộc đời vốn chỉ có trăm 5 thì cần sống sao cho ra phết “đại trượng phu” để ko uổng công sắp xếp của tạo hóa. Ý của Phan Bội Châu chính là tương tự. Và cụ Phan cũng ko chỉ nói riêng hay đặt ra hy vọng, lý tưởng cứu quốc, kiến lập công danh cho chính bản thân mình, nhưng mà với ông “khoảng trăm 5” này nó vừa là thời cơ cũng vừa là thử thách cho tất cả những đấng đại trượng phu trong người đời. Ông có 1 niềm kì vọng rất mập vào các lứa tuổi tương lai, câu hỏi ngỏ đó chính là lời cổ vũ, cổ vũ thâm thúy tới nhiều lứa tuổi thanh niên trong nước, khuyến khích họ tự tạo lập 1 lý tưởng cao đẹp, mạnh bạo xông pha để trả mối nợ công danh cho non nước, cho dân tộc. Phan Bội Châu đã bước những bước đi trước hết đầy gian nan, nhưng mà ngập tràn tráng chí cố gắng và kì vọng về 1 ngày mai khởi sắc, vực dậy non sông, nhưng mà sau trăm 5 của ông, người nào sẽ là người tiếp diễn tuyến đường đó, Phan Bội Châu cần những người cộng sự, những người nối tiếp, để biến lý tưởng cách mệnh đó thành sự thực.

“Non sông đã mất sống thêm nhục
Hiền thánh còn đâu học cũng hoài”

Tới 2 câu thơ luận, người ta mới lại càng thấy được tư cách văn hóa cao đẹp của Phan Bội Châu, chứng minh cho đánh giá rằng cụ Phan là 1 nhà nho văn minh, 1 nhà văn hóa có tiếp cận đa chiều, đa diện, sự cải cách và bắt kịp xu hướng của thời đại đầu thế kỷ XX. Như đã nói qua, các phong trào yêu nước truyền thống thất bại thảm hại nhưng mà đặc trưng là phong trào Cần Vương khiến các nhà nho yêu nước nhụt chí và tuyệt vọng, thì ngược lại Phan Bội Châu lại bước ra từ chính đống đổ nát đó, rút kinh nghiệm tiếp nhận nền văn hóa tư bản và biến thành người đi đầu cứu nước theo tuyến đường tư bản chủ nghĩa. Ấy là 1 bứt phá mập. Cụ nhận thức rất rõ hiện trạng của non sông “quốc gia đã chết” đấy là cái chết của 1 cơ chế, 1 triều đại phong kiến vốn dĩ đã suy sụp từ hàng trăm 5 nay, trong khi cả vua lẫn quan người nào nấy đều hèn hạ, sợ sệt chỉ ham vinh hoa phú quý nhưng mà bằng lòng để đối phương giày xéo non sông. 1 non sông ko có chủ quyền, ko có tự do, và 1 bộ máy bù nhìn thì chẳng hề đã “chết” hay sao. Và với 1 nhà nho yêu nước, 1 con người thẳng thắn sự khom mình đó của triều đình, sự đau đớn của dân tộc, sự ngang tàn của bọn thực dân quả thật là 1 nỗi điếm nhục khôn xiết. “Hiền thánh còn đâu học cũng hoài”, chính là nhận thức của Phan Bội Châu về sự lạc hậu và lỗi thời của nền Nho học. Bằng tư duy khoáng đạt, sự lỗi lạc của mình, ông nhìn thấy trong giờ khắc này Tam tự kinh, Luận ngữ hay các triết lý Nho học chẳng thể đấu lại với súng đạn của đối phương, chẳng thể vực dậy non sông bằng lối tư duy cứng nhắc, thiếu linh động đó nữa. Với nhân cách là 1 nhà nho chính thống, chịu tác động thâm thúy của Nho giáo, đấy là 1 nhận thức hết sức phũ phàng và đớn đau. Nhưng ko chìm đắm trong bất lực, thất vọng như nhiều nhà nho đương thời, Phan Bội Châu đã chuẩn bị từ bỏ những gì mình gắn bó bao lăm 5 trời để tiến tới với 1 tư tưởng mới, đặt những bước đi trước hết trên tuyến đường cứu nước theo thiên hướng tư bản. Thậm chí về sau này, Phan Bội Châu sau lúc bị giam lỏng ở Huế, sau thất bại với phong trào Đông Du, cụ lại cũng nhận thức và có những nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội qua tư tưởng Mác Lê-nin.

“Muốn vượt bể Đông theo cánh gió
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi”

Sau những câu thơ mang đậm thuộc tính chính trị, lý tưởng cao đẹp thì tới 2 câu thơ cuối chất trữ tình lãng mạn cách mệnh trong thơ của tác giả được trình bày khá rõ. “Muốn vượt bể Đông theo cánh gió” chính là trình bày khát vọng lý tưởng của tác giả lúc tới 1 vùng đất mới với kì vọng học hỏi được những tri thức hữu ích mang về phụng sự cho non sông, giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ, lầm than. Ở đấy tầm vóc, tráng chí của người người hùng được trình bày 1 cách bay bổng và khoáng đạt, biểu thị sự tự do, thú vui sướng, hoài bão bự mập nhưng mà Phan Bội Châu ấp ôm lúc lên đường sang Nhật. Cảnh tượng “Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi”, đem lại cho người đọc quang cảnh kỳ vĩ của tự nhiên trong ngày người chí sĩ ra đi, trình bày tầm vóc mập lao, tâm hồn cao đẹp, tự hào, hùng tráng của người ra đi nổi trội hẳn lên trên cái nền sóng nước, mây trời.

Lưu biệt lúc xuất dương là 1 bài thơ hay và rực rỡ của Phan Bội Châu trình bày rõ thiên hướng trữ tình chính trị trong thi ca của 1 nhà nho đương đại, người mở đường cho cách mệnh Việt Nam theo thiên hướng mới, dù ko thành công, nhưng mà nó đã biến thành tiền đề, bài học kinh nghiệm thâm thúy cho lớp người đi sau, điển hình là Hồ Chí Minh. Tác phẩm đã biểu thị tư cách cũng như lý tưởng cao đẹp của Phan Bội Châu trong thời đoạn non sông có nhiều bất định, cùng lúc cũng là lời cổ vũ thâm thúy, sự cổ vũ đối với nhiều phân khúc thanh niên Việt Nam đứng dậy chiến đấu và hành động vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, đánh đuổi ngoại xâm.

Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 8

Phan Bội Châu (1867-1940), quê tại Làng Đan Nhiễm, xã Nam Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, ngay từ bé ông đã trình bày là mình là 1 người tài ba xuất chúng, lại sớm có lòng yêu nước và tinh thần về việc giải phóng dân tộc. Phan Bội Châu cũng là 1 người mang quan niệm nhập thế hăng hái hết sức thâm thúy, nặng lòng với nghiệp công danh cùng món nợ của phận đại trượng phu.

Ông tham dự hăng hái vào nhiều phong trào chống Pháp và sau nhiều lần thất bại rốt cuộc ông đã nhận thức được sự sai trái, yếu kém trong cá tính tổ chức của các phong trào yêu nước thời bấy giờ, từ đấy đề ra chủ trương cứu nước theo tuyến đường tư sản. Ông nấu nung ý định cho các thanh niên ưu tú của sơn hà sang các nước như Nhật Bản, Trung Quốc để học hỏi rồi trở về hỗ trợ non sông, còn gọi là phong trào Đông Du, với tên gọi tổ chức là Duy Tân hội.

Sự văn minh trong tư tưởng cứu quốc của Phan Bội Châu nghe đâu đã mở ra 1 tuyến đường sáng cho cách mệnh Việt Nam thời đoạn đầu, vào những 5 cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, dẫu rằng kết quả ko như mong chờ. Kế bên vai trò là 1 nhà hoạt động cách mệnh hoàn hảo, có nhiều đóng góp bự mập trong công cuộc giải phóng non sông thì Phan Bội Châu còn được biết tới với nhân cách là 1 thi sĩ, nhà văn mập trong nửa đầu thế kỷ 20, với số lượng tác phẩm mập, được xem là người bắt đầu cho nền văn chương cách mệnh Việt Nam, nhưng mà sau Tố Hữu chính là người đưa nó bước đến đỉnh cao.

Lưu biệt lúc xuất dương là 1 bài thơ điển hình cho cá tính sáng tác của Phan Bội Châu, nó ko chỉ thuần tuý là 1 bài thơ trình bày lý tưởng cách mệnh của chí sĩ yêu nước, nhưng mà còn ghi lại mốc quan trọng bắt đầu công cuộc tìm đường cứu nước theo chủ nghĩa tư bản của thi sĩ.

Lưu biệt lúc xuất dương được viết vào 5 1905, trước lúc Phan Bội Châu cùng 1 số thanh niên ưu tú khác lên tàu vượt biển sang Nhật Bản học tập. Tác phẩm có ý nghĩa cổ vũ, khích lệ ý thức cho người ra đi, cùng lúc cũng có chức năng củng cố ý thức, niềm tin, hướng đứa ở lại về 1 ngày mai tốt đẹp hơn, sáng lạn hơn của non sông. Thể hiện được rõ chí khí làm trai của 1 nhà nho, với ý thức yêu nước thâm thúy, cố gắng trả món nợ công danh cho đời lúc Đất nước lâm nguy, lịch sử có nhiều bất định.

Trong 2 câu thơ đầu tác giả đã trình bày rất rõ ý kiến của mình về chí làm đại trượng phu trong thời đại mới, 1 thời đại đầy bất định, buộc con người ta phải có những chuyển đổi về ý chí để kiến lập 1 tuyến đường riêng cho bản thân và cho dân tộc, non sông nhưng mà vẫn giữ được khí tiết của 1 nhà nho chân chính, trong vai trò 1 nhà cách mệnh sôi nổi.

“Làm trai phải lạ ở trên đời
Há để càn khôn tự chuyển dời”

Phan Bội Châu quan niệm rằng thân đại trượng phu “vai 5 tấc rộng, thân mười tấc cao” sống ở trên đời phải tạo ra được chữ “lạ” cho riêng mình, nghĩa là ko cam chịu cuộc sống phổ biến mờ nhạt, quẩn quanh bên chốn “ao tù nước đọng”, nhưng mà phải tự khiến cho mình có điểm đặc sắc, nổi trội phê duyệt những lý tưởng cao đẹp, những mong ước và hy vọng mập, tráng chí ở 4 phương.

Người đại trượng phu phải dám tự thử thách bản thân mình vượt ra khỏi cái vòng an toàn, vượt qua được trở ngại chi ly, được mất, vượt ra khỏi mọi giới hạn mực thước 1 cách mạnh bạo và can đảm, để đạt được những thành công mập, làm nên sự nghiệp hiển hách, phi thường, khác biệt nhưng mà hiếm kẻ làm được. Để “thà 1 phút huy hoàng rồi vụt tắt/Còn hơn le lói suốt trăm 5”, để cuộc đời đại trượng phu sống sao cho xứng với 2 chữ “đại trượng phu”, có góp sức cho cuộc đời, trả cho kỳ được món nợ công danh, chớ để hoài phí 1 cuộc đời mờ nhạt bất nghĩa.

Cái quan niệm về chí làm trai trong thời đại mới của Phan Bội Châu tiếp diễn được làm rõ phê duyệt câu “Há để càn khôn tự chuyển dời”. Thể hiện ý chí mạnh bạo, thái độ hiên ngang, ý muốn thử thách, ngang tầm với vũ trụ, rằng thân trai tráng cần phải nắm chắc và tự quyết định lấy vận mệnh cuộc đời 1 cách quyết liệt và mạnh bạo. Chứ không hề là ý muốn cuộc sống nhàn hạ, bằng lòng sự sắp xếp của tạo hóa, biểu thị khẩu khí mạnh bạo, ngang tàn của bậc nam nhi, mang khí thế tự tin, táo tợn và hiên ngang hết sức.

Ý thơ của Phan Bội Châu ko chỉ nằm ở việc trình bày tráng chí của bản thân nhưng mà kế bên đấy còn mang ý nghĩa cổ vũ các thanh niên trong thời đại mới, biết đứng lên tự lực, tự cường, đeo đuổi lý tưởng cao đẹp, phụng sự cho Đất nước, nâng tầm vóc của bản thân mình ngang tầm vũ trụ, tạo hóa, rũ bỏ cuộc đời bình thường, quẩn quanh ao vườn, ruộng cá, để kiến thân lập nghiệp.

Trong 2 câu thơ tiếp “Trong khoảng trăm 5 cần có tớ/Sau này muôn đời há ko người nào” chính là nhận thức của tác giả về phận sự của người làm trai với non sông, dân tộc, là món nợ công danh cần phải đáp đền. Đặc thù là trong thời buổi lịch sử dân. tộc có nhiều chuyển đổi, giặc dữ rắp ranh xâm phạm chủ quyền thì thanh niên lại càng phải biết đứng ra phụng sự cho Đất nước.

Tác giả đã vẽ ra khoảng thời kì “trăm 5”, trước là ẩn ý chỉ về 1 kiếp người như quan niệm của cha ông ta từ bao đời nay, 1 đời tức chỉ trăm 5. Thứ 2 nữa khoảng thời kì trăm 5 còn là để gợi nhắc về 1 thế kỷ bất định của dân tộc, sự thế đã biết bao lần thay đổi, sự suy vong của cơ chế phong kiến, sự xâm lăng của đế quốc phương Tây khiến dân chúng biết bao phen lầm than. “Trong khoảng trăm 5 cần có tớ” là ẩn ý của tác giả về tầm quan trọng của bản thân trong công cuộc phục hưng, bảo vệ non sông.

Nhưng người làm trai, sức dài vai rộng trong giữa sự sắp xếp của tạo hóa, đã ban cho ta 1 khoảng thời kì đầy bất định, thì bản thân người chí sĩ phải làm sao cho xứng với sự hy vọng của tạo hóa, cũng như xứng đáng với cái danh đại trượng phu của mình. Giả dụ câu trước là khẳng định tầm quan trọng của đấng đại trượng phu trước thời cục, là sự nhận thức về lý tưởng cũng như vai trò của bản thân với non sông thì câu thơ “Sau này muôn đời há ko người nào?” lại là 1 câu hỏi ngỏ, trình bày sự hy vọng, cũng như sự cổ vũ của tác giả đối với tầng phân khúc lớp các lứa tuổi thanh niên và tương lai nữa.

Phan Bội Châu đã dùng chính tráng chí, lý tưởng cao đẹp của mình làm tấm gương sáng, cũng như đặt những bước chân trước hết cho tuyến đường cách mệnh đương đại của dân tộc, của thanh niên Việt Nam. Thức tỉnh trong họ những nhận thức về ý thức cách mệnh, lòng yêu nước, tinh thần phận sự của người thanh niên, và sự tự tin chuẩn bị đương đầu với sóng gió của bậc nam nhi.

Tới 2 câu thơ luận, Phan Bội Châu lại cho chúng ta thấy tầm nhận thức tiến bộ của 1 nhà nho yêu nước, 1 nhà cách mệnh kiểu mới trước tình hình dân tộc, trước sự suy thoái của cơ chế phong kiến và nền nho học đang dần mất đi vị thế vốn có của mình.

“Non sông đã mất sống thêm nhục
Hiền thánh còn đâu học cũng hoài”

“Non sông đã chết” đấy là cái chết của chủ quyền dân tộc, chủ quyền cương vực và sự suy vong của cơ chế phong kiến, non sông lầm than thế nhưng mà bọn đầu sỏ cầm quyền, những con người đứng đầu 1 non sông lại sợ sệt, chỉ dám chui luồn, xu nịnh đám giặc Tây để níu kéo những tháng ngày gấm vóc lụa, là hữu danh vô thực, còn chớ thây số mệnh dân tộc và non sông. 1 non sông nhưng mà ko có chủ quyền, ko có tự do, triều đình phong kiến chỉ là 1 mớ bù nhìn, thối nát tận xương thì còn cách bên bờ bại vong là mấy bước chân nữa đâu.

Thế nên tác giả nói “quốc gia đã chết” cũng chẳng có gì là ko đúng, đặc trưng 1 người với tráng chí, với ý thức yêu nước mạnh bạo như Phan Bội Châu thì đứng trước cảnh xa đó thì quả thực là điếm nhục khôn xiết. Tới câu thơ sau “Hiền thánh còn đâu học cũng hoài”, người ta lại càng thán phục cái tư cách và nhận thức của Phan Bội Châu.

Bởi vốn dĩ Phan Bội Châu là 1 nhà nho chịu tác động rất mạnh bạo từ nền giáo dục phong kiến từ thuở thiếu thời, thế nhưng mà ông ko như 1 số những nhà nho câu chấp ôm bo bo giấc mộng hão huyền về việc phục hưng những thứ vốn đã cũ kỹ, lỗi thời nhưng mà ngược lại ông lại chính là 1 trong những người trước hết nhìn thẳng vào vấn đề, phanh phui sự tụt hậu của nho học, vạch rõ nguyên cớ khiến non sông lâm vào hiện trạng hèn yếu.

Không phủ nhận rằng Nho học quả thật là 1 kho tàng bao la, đem lại cho con người sự giáo dục tốt đẹp, thế nhưng mà nhìn vào bối cảnh hiện nay nó chỉ mang lại những sự ảo vọng ko có thực, ko có lợi trong việc diệt giặc thù, giành lại chủ quyền dân tộc. Việc phủ nhận nền Nho học vốn đã gắn bó với mình bao lăm lâu đó quả thật là nỗi chua xót hết sức mập của tác giả, nhưng mà với tư cách cũng như lý tưởng cao đẹp và lòng cố gắng của 1 chí sĩ yêu nước, thì ko nỗi đau nào vượt qua được nỗi đau mất nước.

Nhưng với nhân cách người làm trai, ông lại càng phải trình bày vai trò phục hưng Đất nước bằng tuyến đường đương đại chứ không hề là ôm mãi giấc mộng huy hoàng đã qua. Từ đấy ta thấy được tâm hồn khoáng đạt, mạnh bạo và tự do của 1 chí sĩ yêu nước chân chính, chuẩn bị hy sinh tất cả, nén nhịn nỗi đau tư nhân vì ích lợi của dân tộc, của non sông, để hoàn trả món nợ công danh.

Cuối cùng ở 2 câu thơ kết “Muốn vượt bể Đông theo cánh gió/Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi” chính là hình ảnh người chí sĩ yêu nước lên đường vượt biển xa quê hương để tìm đến chân mây mới, học hỏi những tri thức mới để trở lại phụng sự cho Đất nước, dân tộc với phong độ hiên ngang và tự tin hết sức.

Những hình ảnh “bể Đông”, “muôn trùng sóng bạc” đã gợi ra 1 bối cảnh ko gian bao la, hào phóng, trình bày tâm hồn yêu đời, cùng những khát vọng, lý tưởng cao mập muốn vươn ra biển mập của người chí sĩ. Tầm vóc con người trở thành kì vĩ, mập lao nổi trội hẳn trên cái nền của tự nhiên bởi sự tự hào, tráng chí hùng mạnh bên trong tâm hồn đối tượng trữ tình.

Lưu biệt lúc xuất dương là 1 bài thơ hay, có nội dung và ý nghĩa mập, ko chỉ biểu thị những khát vọng, lý tưởng cao đẹp của 1 nhà hoạt động cách mệnh thời đại mới, nhưng mà còn là lời cổ vũ cổ vũ, khơi dậy ý thức yêu nước, lòng tự trọng dân tộc, cũng như thức tỉnh sự tự tin, lý tưởng và khát vọng cao đẹp của thanh niên Việt Nam trong bối cảnh non sông có nhiều bất định.

Có thể nói rằng Lưu biệt lúc xuất dương là 1 trong những bài thơ mang thiên hướng trữ tình cách mệnh trước hết, khơi nguồn cho nền văn chương cách mệnh của dân tộc đạt tới đỉnh cao về sau này.

Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 9

“Thi dĩ ngôn chí” – thơ để nói chí, tỏ lòng. Cho nên tầm vóc của loại thơ này cuối cùng, dựa dẫm vào tầm vóc của chí. Nhưng chí khí không hề là những bộc phát nhất thời, càng chẳng thể là những chí hướng vay mượn. Chí cần phải được bảo đảm bằng nghiệp.

Có thể có những sự nghiệp ko thành, nhưng mà sự dang dở đó cũng chứng tỏ về 1 chí mập đã lao vào, không hề thứ chí suông. Chính nó là sự bảo đảm cho thơ. Vì vậy. thơ sẽ chỉ còn là những lời lẽ phô trương sáo rỗng, là sự thổi phồng đao bự búa mập rẻ tiền, giả dụ ko có 1 chí mập, hơn thế giả dụ chí mập đó ko gắn với 1 cốt cách mập, 1 cuộc đời mập.

Tiếng thơ biểu thị trực tiếp các chí mập lâu nay thường gắn với những bậc anh hào, những đấng lang quân. Thơ của họ là lời tuyên ngôn của cuộc đời họ. Trước lúc họ tạc con người mình vào trong thơ, thì họ đã tạc con người mình vào núi sông. Người đời thường ví họ như chim hồng, chim hộc và đối lập với những chim sẻ, chim ri. Và trong thơ của mình, họ xuất hiện đúng như những cánh đại bàng tung hoành trong bát ngát trời biển.

Tư thế của họ là tư thế kì vĩ, tư thế vũ trụ, chẳng “Hoành sóc sơn hà cáp kỉ thu’ (Cấp ngang ngọn giáo bảo vệ sơn hà đã mấy. thu – Phạm Ngũ Lão), thì cũng “Kỉ độ long tuyền đới nguyệt ma” (Bao phen mang gươm báu mài dưới trăng – Đặng Dung), chảng “Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư” (Kêu bự 1 tiếng làm lạnh cả hư vô – Không Lộ thiền sư) thì cũng “Bay thẳng cánh muôn trùng Tiêu Hán, Phá vòng vây bạn với Kim ô” (Nguyễn Hữu cầu)… như thế dã chứa đựng trong đấy hào khí của cả nòi giống.

Nằm trong mạch ngôn chí trực tiếp đó, Xuất dương lưu biệt của Phan Bội Châu là hùng tâm tráng chí của 1 trong những người con ưu tú nhất của giống nòi giống Việt Nam. Thực ra cái quan niệm làm trai ở trong bài thơ này ko phú của riêng Phan Bội Châu. Nó là quan niệm chung về chí làm trai của nhà Nho thuở trước. Và ít ra ta cũng thấy nó từng vang lên rất mãnh liệt trong thơ văn Nguyễn Công Trứ.

Song, điều đáng nói chính là ở chỗ, không hề Phan Bội Châu đang ném ra cuộc đời 1 quan niệm lí thuyết như 1 người có ý đồ lập thuyết, nhưng mà ông là người đã sống cái quan niệm đó 1 cách đủ đây trước lúc viết thành thơ. Có nhẽ vì vậy nhưng mà Xuất dương lưu biệt ko chỉ chứa đựng 1 lẽ sống nhưng mà trước tiên là chứa đựng chân dung 1 con người – 1 con người lỗi lạc, kiệt xuất. Hai câu đề:

Làm trai phải lạ ở trên đời,
Há để càn khôn tự chuyển dời.

Tôi ko nghĩ chữ “lạ” trong bản dịch này đã trình bày được hết cái ý thức của chữ “kì”. Bởi chữ “kì” muốn nhắc đến cái điều: làm trai phải làm được những điều kì dị, kiệt xuất, phi thường. 1 mình chữ “lạ” ko tải hết ý của Phan tiên sinh. Tôi cũng ko nghĩ rằng người dịch dùng 3 chữ “ở trên đời” là đã diễn được thực ý của nguyên tác.

“Đời” là 1 ko gian tưởng là rộng nhưng mà hóa ra lại hẹp, bởi nó có xu thế co vào cái khuôn khổ của toàn cầu người thôi. Trong nguyên văn, Phan Bội Châu ko dùng những chữ đó. Chỉ tới câu thứ 2 ta mới thấy yêu tố ko gian hiện ra. Và tức khắc bậc tu mi nam tử theo quan niệm của Phan Sào Nam đã xuất hiện trong tương quan kì vĩ nhất: ko gian vũ trụ.

Đấng đại trượng phu sinh ra ở trong vũ trụ này là đương đầu với càn khôn (trời đất), tức là với tất cá những gì mập lao nhất trong vũ trụ này, chứ ko riêng gì toàn cầu người. Vậy là ngay từ 2 câu đề, hình ánh nói chung về 1 bậc anh hào đã hiện lên đầy ấn tượng: Ấy không hề là kẻ sống tiêu cực phó mặc đường đời mình cho trời đất, và cũng ko phó mặc cõi đời này cho sự xoay vần của trời đất.

Đấng nam tử phải là người chủ động thay đổi cả càn khôn. Cái chí ngang dọc trời đất, chọc trời khuấy nước, cải tạo vũ trụ đấy mới là điều xứng với 1 đời làm đại trượng phu. Quan niệm con người của Phan Bội Châu ở đây là quan niệm con người vũ trụ rất không xa lạ của văn học Nho giáo trung đại. Nếu 2 câu đề gợi ra hình ảnh nam tử trong ko gian kì vĩ, thì 2 câu thực đã tăng trưởng hình ảnh đó trong 1 chiều kích khác: thời kì. Thời gian ở đây cũng là thời kì thuộc tầm cỡ vĩ mô:

Trong khoảng trăm 5 cần có tớ,
Sau này muôn đời há ko người nào?

Ở câu đề tuy khẩu khí tư nhân đã rõ, nhưng mà quan niệm vẫn là quan niệm chung. Tới đây thì con người tư nhân Phan Bội Châu đã hiện ra ngay trên bề mặt câu chữ. Ông đã tinh thần về vai trò lịch sử của mình thật hùng dũng đầy tự trọng, tự tin. Mình phải biến thành 1 đối tượng chẳng thể thiếu trong cái khoảng thời kì 1 trăm 5 nay. Nói 1 cách khác, ông tự lãnh nhận sứ mệnh của mình: 1 con người cần phải có của thế kỉ.

Đối diện với càn khôn, đối diện với cả thế kỉ, tầm vóc của bậc nam tử này thật là tầm vóc vũ trụ. Không phải ông muốn chiếm lấy 1 chỗ đứng chỉ cần khoảng như 1 kẻ vĩ cuồng háo danh. Nhưng chính là làm nên cái việc trọng đại, kiệt xuất là xoay chuyển càn khôn để làm thay đổi gương mặt của thế kỉ. Chữ “tớ” là cách dịch thoát của chữ “ngã“ (tôi).

Dù dịch là tôi, là ta, là “tớ” thì ngã vẫn cứ là cái tinh thần mãnh liệt về tư nhân mình trên cõi trần giới này. Hình ảnh tác giả xuất hiện trong bát ngát thời kì, lồng lộng ko gian như thế là 1 vẻ đẹp tư nhân thật hoa lệ nguy nga. Phcửa ải thấy rằng, ít có người nào đã tự họa mình trong 1 ko gian và thời kì hoành tráng tương tự! Dầu sao trong 4 câu đầu này mới nhắc đến điều phải “lạ”, nhưng mà chưa nói rõ “việc lạ” cần làm là gì! 4 câu tiếp theo sẽ dần dần làm sáng lên điều đấy. Hai câu luận là 1 sự nhìn nhận phi thường:

Non sông đã sống chết thêm nhục,
Hiền thánh còn đâu học cũng hoài

Câu trên khẳng định: Non sông đã chết! Khi chủ quyền đã về tay kẻ ngoại quốc, thì quốc gia đã chết. Sống nhưng mà ko có quyền làm chủ là sống nhục. 4 chữ “Giang sơn tử hĩ” chất đầy đớn đau và căm uất. Câu dưới tiếp diễn Hiền thánh đã vắng bóng thì có đọc sách cũng ngu thôi! Tất cả là những lời phủ định dứt khoát, quyết liệt rằng: Còn học đòi sách vở, còn sống ở trong nước thời buổi này là điều điếm nhục đối với 1 trang đại trượng phu.

Bởi đấy là đã nhắm mắt nhắm mũi quay lưng cho “càn khôn tự chuyển đi”, là phó mặc mình cho đời xoay vần. Tất cả những gì thiêng liêng xứng đáng với 1 bậc nam tử coi như đã chết. Vì vậy nhưng mà thiết yếu hành động xứng đáng. Hành động xứng đáng, hành động kiệt xuất phi thường đó hiện thời chính là: Xuất dương. Những câu trên ta thấy cái tôi (ngã) xuất hiện trước “càn khôn”, trước “ Bách niên trung”, “Thiên tải hậu” những chiều kích vĩ của ko gian và thời kì, ở đây, nó tiếp diễn được tô đậm bằng: “Giang sơn” và “Thánh hiền”.

Con người đó đương đầu với sơn hà non sông, đương đầu với toàn thể nền học thức. Cho nên, càng về sau chân dung của con người đó, cái tôi đó càng sắc nét với tất cả những gì mập lao nhất. Cái ko gian độc nhất có thể chứa đựng được con người đó là vũ trụ. Tới 2 cấu kết thì những nét bút kì vĩ rốt cuộc đã hoàn thiện hành động kiệt xuất của 1 cuộc đời kiệt xuất:

Muốn vượt biển Đông theo cánh gió,
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.

6 câu trên gợi ra những suy nghĩ, những tuyển lựa, những sẵn sàng trong tâm lí, trong tư tưởng của 1 con đại bàng. Ở 2 câu này, chúng ta thấy con đại bàng đó đang tung đôi cánh bát ngát của mình bay thẳng ra trùng dương, đương đầu với hết thảy những giông tố bão bùng. Câu thơ gợi ta nhớ tới tư thế của con chim mập trong thư Quận He: “Bay thẳng cánh muôn trùng Tiêu Hán, Phá vòng vây bạn với Kim ô”.

Nhưng câu thơ của Phan Bội Châu ko còn là 1 hình ảnh ước lệ nữa. Bởi phong trào Đông du nhưng mà ông là người chủ trương, bởi việc xuất dương nhưng mà ông là người cử sự chính là những hành động phi thường của những bậc lang quân chuẩn bị ném đời mình vào muôn trùng sóng bạc ra khơi tìm đường làm sống lại “sơn hà đã chết”, tìm cách xoay chuyển càn khôn. Bài thơ kết bằng câu thơ đầy hùng tâm tráng chí nhưng mà câu thơ dịch chưa thể truyền tải hết được: Thiên trùng bạch lãng nhất loạt phi.

Như vậy, làm trang đại trượng phu không hề là bằng mọi cách để lưu danh sử sách, khẳng định tư nhân. Nhưng tư nhân đó phải làm nên việc phi thường, đó là việc kinh bang, tế thế, cứu dân cứu nước. Khát vọng sống cao cả của Phan Bội Châu ở đây, 1 lần nữa, giúp ta hiểu được cái cốt cách lớn lao của con người kiệt xuất này.

Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 10

Phan Bội Châu (1867 – 1940) tên thật là Phan Văn San, hiệu là Sào Nam, người làng Đan Nhiệm, nay là xã Nam Hoà, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Ông sinh ra và mập lên trong cảnh nước mất nhà tan, tận mắt chứng kiến sự thất bại của phong trào Cần Vương chống Pháp. Chế độ phong kiến suy vong kéo theo sự sụp đổ của cả 1 hệ thống tư tưởng phong kiến già cỗi, lạc hậu.

Tình hình đấy đặt ra cho các chí sĩ yêu nước 1 câu hỏi mập: Phcửa ải cứu nước bằng tuyến đường nào? Trong ko khí âm u bao trùm khắp non sông thời đấy, những tia sáng hi vọng hé rạng qua nguồn sách Tân thư quảng bá tư tưởng cách mệnh dân chủ tư sản của phương Tây với nội dung khác hẳn với các sách thánh hiền thuở trước. Người ta có thể tìm thấy ở đấy những gợi ý thu hút về 1 tuyến đường cứu nước mới, những cảnh xa đầy hẹn hứa hẹn cho ngày mai. Vì vậy, các nhà Nho đương đại của thời đại như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đã đi đầu dấn bước, bất chấp gian nguy, gian khó.

Phan Bội Châu là 1 trong những chí sĩ yêu nước trước hết mở ra tuyến đường cho sự nghiệp chiến đấu giải phóng dân tộc theo thiên hướng dân chủ tư sản. Mặc dầu sự nghiệp ko thành, nhưng mà ông mãi mãi là tấm gương sáng chói về lòng yêu nước khẩn thiết và ý chí chiến đấu kiên định, quật cường.

Sinh thời, Phan Bội Châu ko coi văn học là mục tiêu của cuộc đời mình nhưng mà trong giai đoạn hoạt động cách mệnh, ông đã chủ động nắm lấy thứ vũ khí tinh khí sắc bén đó để tuyên truyền, cổ động, cổ vũ ý thức yêu nước của đồng bào ta. Năng khiếu văn học, bầu tâm huyết sục sôi cùng sự trải đời trong bước đường cách mệnh là cơ sở để Phan Bội Châu biến thành 1 nhà văn, thi sĩ mập với những tác phẩm hoàn hảo như: Việt Nam vong quốc sử (1905), Hải ngoại huyết thư (1906), Ngục trung thư (1914), Trùng Quang tâm sử (1913 -1917), Phan Bội Châu niên biểu (1929)…

5 1904, ông cùng các đồng đội của mình lập ra Duy Tân hội. 5 1905, hội chủ trương phong trào Đông Du, đưa thanh niên ưu tú sang Nhật Bản học tập để sẵn sàng lực lượng cốt cán cho cách mệnh và tranh thủ sự hỗ trợ của các thần thế bên ngoài. Trước khi lên đường, Phan Bội Châu làm bài thơ Xuất dương lưu biệt để giã biệt bằng hữu, đồng đội. Phiên âm chữ Hán:

Sinh vi nam tử yếu hi kì,
Khẳng hẹn càn khôn tự di chuyển.
Ư bách niên trung tu hữu ngã,
Khởi thiên tải hậu cảnh vô thùy.
Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế,
Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si!
Nguyện trục trường phong Đông hải khứ,
Thiên trùng bạch lãng nhất loạt phi.

Dịch thơ:

Làm trai phải lạ ở trên đời,
Há để càn khôn tự chuyển dời.
Trong khoảng trăm 5 cần có tớ,
Sau này muôn đời, há ko người nào?
Non sông đã chết, sống thêm nhục,
Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài!
Muốn vượt bể Đông theo cánh gió,
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.

Bằng giọng thơ nhiệt huyết có sức lay chuyển mạnh bạo, Lưu biệt lúc xuất dương đã khắc họa vẻ đẹp lãng mạn hào hùng của nhà chí sĩ cách mệnh Phan Bội Châu, với tư tưởng mới mẻ, táo tợn, bầu tâm huyết sôi trào và khát vọng cháy bỏng trong buổi ra đi tìm đường cứu nước. Bài thơ bắt đầu bằng việc khẳng định chí làm trai:

Làm trai phải lạ ở trên đời,
Há để càn khôn tự chuyển dời.

Câu thơ chữ Hán: Sinh vi nam tử yếu hi kì. Hai từ hi kì có tức là hiếm, lạ, khác lạ cần được hiểu như những từ nói về thuộc tính mập lao, trọng đại, kì vĩ của công tác nhưng mà kẻ làm trai phải đảm trách. Đây cũng là lí tưởng nhân sinh của các nhà Nho thời phong kiến.

Trước Phan Bội Châu, nhiều người đã nói đến tới chí làm trai trong thơ ca. Phạm Ngũ Lão đời Trần từng băn khoăn: Công danh nam tử còn vương nợ,/ Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu (Tỏ lòng). Trong bài Đi thi tự vịnh, Nguyễn Công Trứ khẳng định: Đã mang tai mang tiếng ở trong trời đất,/ Phcửa ải có danh gì với sông núi… và nhấn mạnh: Chí làm trai nam, bắc, tây, đông/ Cho phỉ sức tung hoành trong 4 bể (Chí khí người hùng).

Chí làm trai của Phan Bội Châu thuyết phục lứa tuổi trẻ thời bấy giờ ở sự táo tợn, quyết liệt và cảm hứng lãng mạn nhiệt liệt bay bổng. Với ông, làm trai là phải làm được những điều lạ, tức những việc hiển hách phi thường. Câu thơ thứ nhất khẳng định điều đấy. Câu thơ thứ 2 mang ngữ điệu cảm thán bổ sung cho ý của câu thứ nhất: Kẻ làm trai phải can hệ vào việc xoay chuyển càn khôn, chuyển đổi thời thế chứ không hề chỉ giương mắt ngồi nhìn thời cục thay đổi, yên phận thủ thường, bằng lòng mình là kẻ đứng ngoài.

Thực ra, đây là sự nối tiếp khát vọng của đối tượng trữ tình trong bài Chơi xuân: Giang sơn còn thêu dệt mặt đại trượng phu,/ Sinh thời thế phải xoay nên thời thế. Chân dung đối tượng trữ tình trong bài Lưu biệt lúc xuất dương hiện lên khá rõ qua 2 câu đề. Ấy là 1 con người mang tầm vóc vũ trụ, tự tinh thần rằng mình phải có phận sự đảm trách những trọng trách mập lao.

Con người đó dám đương đầu với cả càn khôn, vũ trụ để tự khẳng định mình. Chí làm trai của Phan Bội Châu đã vượt hẳn lên trên cái mộng công danh lâu nay thường gắn liền với tam cương, ngũ thường của Nho giáo để vươn đến lí tưởng xã hội bao la và cao cả hơn nhiều.

Cảm hứng và ý nghĩ đấy phần nào xuất hành từ lí tưởng trí quân, trạch dân của các nhà Nho thuở trước nhưng mà văn minh hơn vì mang thuộc tính cách mệnh. Theo quy luật, hồng quân xoay vần vốn là lẽ thường tình, nhưng mà Phan Bội Châu ấp ôm khát vọng chủ động xoay chuyển càn khôn, chứ ko để cho nó tự chuyển vần.

Cũng có tức là ông ko chịu khuất phục trước số mệnh, trước tình cảnh. Lí tưởng văn minh đó đã tạo cho đối tượng trữ tình trong bài thơ 1 tầm vóc mập lao, 1 tư thế hiên ngang, ngạo nghễ thử thách với càn khôn. Hai câu thực trình bày tinh thần về phận sự tư nhân của thi sĩ, cũng là nhà cách mệnh đi đầu trước cuộc đời:

Trong khoảng trăm 5 cần có tớ,
Sau này muôn đời, há ko người nào?

Câu thứ 3 ko chỉ dễ dãi công nhận sự có mặt của đối tượng trữ tình ở trên đời nhưng mà còn hàm chứa 1 tâm niệm: Sự hiện diện của ta không hề là 1 sự kiện tình cờ, vô bổ; thành ra, ta phải làm 1 việc gì đấy mập lao, bổ ích cho đời. Câu thứ tư có tức là nghìn 5 sau, chẳng lẽ, chẳng có người nối liền công tác của người đi trước. “Cái tôi công dân” của tác giả đã được đặt ra giữa giới hạn trăm 5 của đời người và nghìn 5 của lịch sử.

Sự khẳng định cần có tớ không hề với mục tiêu hưởng lạc nhưng mà là để góp sức cho đáng mặt đại trượng phu và lưu danh hậu thế. Câu hỏi tu từ cũng là 1 cách khẳng định mãnh liệt hơn khao khát góp sức và nhận thức đúng mực của tác giả: Lịch sử là 1 dòng chảy liên tiếp, cần có sự góp mặt và đảm trách của nhiều lứa tuổi nối liền nhau. Trong 4 câu thơ đầu, những hình ảnh kì vĩ của tự nhiên như càn khôn, trăm 5, muôn đời đã trình bày cảm hứng lãng mạn bay bổng, chính là cỗi nguồn sức mạnh niềm tin của đối tượng trữ tình.

Ở những 5 đầu thế kỉ XX, sau thất bại liên tục của các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp, 1 nỗi bi lụy, tuyệt vọng đè nặng lên tâm hồn những người Việt Nam yêu nước. Tâm lí yên phận thủ thường lan rộng. Trước tình hình đấy, bài thơ Lưu biệt lúc xuất dương có ý nghĩa như 1 hồi chuông thức tỉnh lòng yêu nước, cổ vũ mọi người đứng lên chống giặc ngoại xâm. Trong 2 câu luận, Phan Bội Châu đặt chí làm trai vào tình cảnh thực tiễn của lịch sử đương thời:

Non sông đã chết, sống thêm nhục,
Hiền thánh còn đâu học cũng hoài.

Lẽ nhục – vinh nhưng mà tác giả đặt ra gắn liền với sự tồn vong của non sông và dân tộc: Non sông đã chết, sống thêm nhục. Ý nghĩa của nó tương đồng với ý kiến: Chết vinh còn hơn sống nhục trong thơ văn yêu nước Nguyễn Đình Chiểu cuối thế kỉ XIX.

Câu thơ thứ 5 bộc bạch 1 thái độ dứt khoát, được trình bày bằng tiếng nói đậm khẩu khí người hùng, bằng sự đối lập giữa sống và chết. Ấy là khí tiết cương cường, quật cường của những con người ko cam chịu cuộc đời bầy tớ tủi hổ. Ý thơ mới mẻ mang thuộc tính cách mệnh. Ở câu thứ 6, Phan Bội Châu đã ngay thẳng bộc bạch quan điểm trước 1 thực tiễn đau xót là tác động của nền giáo dục Nho giáo đối với cảnh ngộ sơn hà khi bấy giờ.

Sách vở thánh hiền chẳng giúp ích được gì trong buổi nước mất nhà tan. Cho nên nếu cứ bo bo đeo đuổi thì chỉ hoài công vô bổ nhưng mà thôi. Đương nhiên, Phan Bội Châu chưa hoàn toàn phủ nhận cả nền học thức Nho giáo, nhưng mà đưa ra 1 đánh giá như thế thì quả là táo tợn đối với 1 người từng là môn sinh của chốn cửa Khổng sân Trình.

Dũng khí và nhận thức minh mẫn đấy trước tiên bắt nguồn từ lòng yêu nước khẩn thiết và khát vọng cháy bỏng muốn tìm ra tuyến đường đi mới để đưa sơn hà thoát khỏi cảnh bầy tớ lầm than. Phan Bội Châu cho rằng nhiệm vụ thiết thực trước mắt là cứu nước cứu dân, là Duy tân, nghĩa là học hỏi những tư tưởng cách mệnh mới mẻ và văn minh. Bài thơ ko thuần tuý là chỉ để bộc bạch ý chí nhưng mà đích thực là 1 cuộc lên đường của đối tượng trữ tình:

Muốn vượt bể Đông theo cánh gió,
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.

Các hình ảnh kì vĩ trong 2 cấu kết mang tầm vũ trụ: bể Đông, cánh gió, muôn trùng sóng bạc. Tất cả như hòa nhập làm 1 với con người trong tư thế bay lên. Trong nguyên tác, 2 câu 7 và 8 kết hợp với nhau để hoàn chỉnh 1 tứ thơ đẹp: Con người đuổi theo ngọn gió mập qua biển Đông, cả vũ trụ rộng lớn Muôn lớp sóng bạc cùng bay lên (Thiên trùng bạch lãng nhất loạt phi).

Tất cả tạo thành 1 bức tranh hoành tráng nhưng mà con người là trung tâm được chắp cánh bởi khát vọng mập lao, bay bổng lên trên thực tại u tối hà khắc, lồng lộng giữa trời biển bát ngát. Bên dưới đôi cánh đại bàng đấy là muôn trùng sóng bạc dâng cao, bọt tung trắng xóa, nghe đâu muốn tiếp sức cho con người bay thẳng đến chân mây mong ước. Hình ảnh đậm chất sử thi này đã thắp sáng niềm tin và hi vọng cho 1 lứa tuổi mới trong thời đại mới.

Thực tế thì cuộc ra đi của Phan Bội Châu là 1 cuộc ra đi kín đáo, đưa tiễn chỉ có vài 3 đồng đội thân thiện nhất. Dù phía trước chì mới le lói vài tia sáng của mong ước, nhưng mà người ra đi tìm đường cứu nước vẫn hăm hở và đầy tin cậy. Sức thuyết phục, quyến rũ của bài thơ chính là ở ngọn lửa đon đả đang bừng cháy trong lòng đối tượng trữ tình.

Bài thơ đã thể hiện ảnh tượng người người hùng trong buổi lên đường xuất dương lưu biệt với tư thế kì vĩ, sống ngang tầm vũ trụ. Người người hùng đó tinh thần rất rõ ràng về “cái tôi công dân” và luôn khắc khoải, day dứt trước sự tồn vong của đất nước, dân tộc.

Bài thơ Lưu biệt lúc xuất dương được viết theo văn pháp ước lệ và thổi phồng, rất thích hợp với mục tiêu khích lệ, cổ vũ. Giọng thơ vừa sâu lắng, da diết, vừa sục sôi, hào hùng, mang âm hưởng tráng ca. Nỗi đớn đau, niềm sáng sủa, đon đả hành động cùng tư tưởng cách mệnh đã thổi hồn vào từng câu, từng chữ, từng hình ảnh trong bài thơ. Âm hưởng hào hùng của bài thơ có sức lay chuyển, thức tỉnh rất mập đối với mọi người.

Đây là bài thơ từ giã nhưng mà cũng là lời kêu gọi, giục giã lên đường. Tầm vóc bài thơ hoàn toàn tương hợp với tầm vóc của 1 con người được cả dân tộc hâm mộ và tin cậy. Trong tác phẩm Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu (1925) tác giả Nguyễn Ái Quốc đã tôn vinh Phan Bội Châu là: bậc người hùng, vị thiên sứ, đấng lao vào vì độc lập được 2 mươi triệu đồng bào trong khoảng bầy tớ tôn sùng.

Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 11

Những 5 đầu thế kỉ XX, trong khi non sông Việt Nam mất đi chủ quyền, phong trào Cần Vương thất bại thì tư tưởng dân chủ tư sản đã thổi 1 luồng gió mới tới các thanh niên yêu nước. Họ tìm thấy những lí tưởng mới mẻ và ra đi với 1 niềm tin mạnh bạo vào dân tộc. 1 trong những nhà cách mệnh đã có cuộc ra đi hào hùng tương tự là Phan Bội Châu. Trước lúc lên đường sang Nhật Bản, ông đã viết bài thơ “Lưu biệt lúc xuất dương” như 1 lời từ giã. Đây là 1 bài thơ rực rỡ trong kho tàng văn thơ của Phan Bội Châu.

“Làm trai phải lạ ở trên đời
Há để càn khôn tự chuyển dời”

Hai câu đầu mở ra 1 quan niệm mới về chí làm trai và vị thế của con người trong xã hội. Đã làm đại trượng phu thì phải sống thật phi thường, hiển hách, dám mưu đồ sự nghiệp, dám xoay chuyển “càn khôn”, dám chủ động chống chọi với thách thức chứ ko sống tiêu cực, tẻ nhạt và bình thường.

Con người phải khẳng định được địa điểm của mình trong cuộc đời chứ ko đầu hàng trước số mệnh. Cũng giống như Nguyễn Công Trứ từng dõng dạc: “Làm trai đứng ở trong trời đất/ Phcửa ải có danh gì với sông núi”. Như vậy, Phan Bội Châu đã biểu thị 1 tư tưởng, 1 lẽ sống cao đẹp và văn minh. Từ đấy tác giả tinh thần:

“Trong khoảng trăm 5 cần có tớ
Sau này muôn đời, há ko người nào?”

Quan niệm mới đã tạo nên nên tinh thần tư nhân gắn với 1 “cái tôi” đầy phận sự trước thời thế. Nhà thơ khẳng định về sứ mạng cao cả, thiêng liêng của mình giữa cuộc đời, tinh thần thâm thúy và phận sự mập lao của bản thân. Không phải chỉ sống 1 cuộc sống nhạt nhòa, phẳng lặng nhưng mà phải sống góp sức, hiên ngang, hiển hách để đánh dấu danh tiếng với hậu thế. Câu thơ thứ tư phủ định chính là để khẳng định dứt khoát hơn về lẽ sống của mình.

Những hình ảnh thơ bự mập, kỳ vĩ như “càn khôn”, “trăm 5”, “muôn đời” đã góp phần làm nổi trội lên khao khát sống, góp sức của tác giả. Không chỉ tinh thần được phận sự của mình, Phan Bội Châu còn biểu thị thái độ cương quyết của mình trước thời cục:

“Non sông đã chết, sống thêm nhục
Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài”

Bằng tình yêu nước cháy bỏng và đôi mắt tinh tế của mình, Phan Bội Châu đã nhận thức rõ hơn về tình hình non sông khi bấy giờ. Lẽ vinh – nhục được đặt ra như 1 nỗi đau đáu của người đại trượng phu trước cảnh ngộ nước mất, nhà tan. Cũng như những nhà cách mệnh khác, ông cũng trằn trọc về tuyến đường ngày mai của dân tộc, phải làm sao để cứu được non sông. Ông đã tỉnh ngủ nhìn thấy thực tiễn: non sông mất đi chủ quyền, “hiền thánh” cũng chẳng thể làm gì được. Ở câu này, bản dịch thơ chưa sát lắm so với nguyên tác.

Bản nguyên tác đã nói lên thái độ dứt khoát, mạnh bạo của Phan Bội Châu: “Thánh hiền đã vắng thì có đọc sách cũng ngu thôi!”. Không phải ông hoàn toàn mất niềm tin ở học thức Nho giáo nhưng mà ông đã minh mẫn nhìn thu được những giảm thiểu của nó. Ấy 1 phần là nhờ vào sự tác động của tư tưởng dân chủ tư sản được truyền vào nước ta. Đứng trước tình hình đấy, Phan Bội Châu đã dấy lên những khát vọng cuồng nhiệt, quyết liệt:

“Muốn vượt bể Đông theo cánh gió
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi”

Hai câu thơ cuối đã vẽ ra tư thế hiên ngang, hào hùng và ko kém phần lãng mạn của người ra đi tìm đường cứu nước. Những hình ảnh thơ mập lao, kì vĩ liên tiếp hiện ra: “bể Đông”, “cánh gió”, “muôn trùng sóng bạc”,… đã góp phần tô đẹp tư thế và khát vọng của con người buổi lên đường. Tuy nhiên, ở bản dịch thơ vẫn chưa làm nổi trội được hết vẻ đẹp của bức tranh này.

“Tiễn ra khơi” chỉ là 1 cuộc tiễn đưa phổ biến như bao cuộc tiễn đưa khác, “Ngàn đợt sóng bạc cùng bay lên” mới trình bày đầy đủ và toàn vẹn 1 bức tranh hoành tráng với hình tượng trung tâm là con người, bao quanh là vũ trụ bao la cùng chắp cánh cho mong ước của con người. Trên thực tiễn, đây là cuộc ra đi khá âm thầm, kín đáo, nhưng mà qua bài thơ, tác giả đã trình bày 1 tư thế vô cùng hiên ngang, tự tin vào tiền trình của non sông. Ấy được xem là 1 hình ảnh đẹp trong văn chương, 1 hình ảnh vừa giàu chất sử thi lại vừa hòa quyện với cảm hứng lãng mạn.

Bài thơ được bình chọn là 1 trong những thi phẩm có sức quyến rũ mạnh bạo. Không chỉ với tư tưởng và quan niệm mới mẻ nhưng mà còn những nét nghệ thuật rực rỡ. Thi phẩm được viết với thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật thích hợp với việc “nói chí” của Phan Bội Châu. Hình ảnh thơ kỳ vĩ, mập lao góp phần lột tả toàn vẹn những khát vọng hành động và tinh thần phận sự của tác giả. Giọng thơ linh động, sôi nổi và mạnh bạo.

Như vậy, cả bài thơ đã xây dựng được hình tượng người chí sĩ cách mệnh với vẻ đẹp hào hùng lãng mạn. Bằng tâm huyết và tình yêu nước sâu nặng của mình, Phan Bội Châu đã ko chỉ biến thành 1 nhà cách mệnh nhưng mà còn biến thành 1 văn sĩ mập của dân tộc, đáng được thiên hạ sau tôn kính.

Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 12

“Chúng ta có thể nói rằng trong lịch sử giải phóng dân tộc của dân chúng Việt Nam, trước Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phan Bội Châu là 1 đối tượng lớn lao (Tôn Quang Phiệt), Phan Bội Châu là vong linh của các phong trào di chuyển giải phóng Đất nước khoảng 25 5 đầu thế kỉ XX.

Danh tiếng ông bất diệt với các tổ chức yêu nước như Hội Duy Tân, phong trào Đông Du, Việt Nam Quang Phục hội… Danh tiếng Phan Bội Châu gắn liền với hàng trăm bài thơ, hàng chục cuốn sách, 1 số bài văn tế và vài 3 vở tuồng tràn đầy ý thức yêu nước. “Phan Bội Châu câu thơ dậy sóng” (Tố Hữu).

5 1900, Phan Bội Châu đậu hương nguyên khoa thi Hương trường Nghệ. 5 1904 ông sáng lập ra Hội Duy Tân, 1 tổ chức yêu nước. 5 1905 ông dấy lên phong trào Đông Du. Trước khi lên đường Đông du, qua Trung Hoa, Nhật Bàn đế nguyện cầu viện với bao hoài bão vùng vẫy, ông đã để lại đồng đội bài thơ Lưu biệt lúc xuất dương (Xuất dương lưu biệt.) được viết bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn bát cú Đường luật.

Đây là khúc tráng ca bộc lộ tư thế. quyết 8 hăm hở, và những ý nghĩa cao cả mới mẻ của chí sĩ Phan Bội Châu trong buổi đầu xuất dương cứu nước. Hai câu đề là 1 tuyên ngôn về chí hướng, về lẽ sống cao cả:

Sinh vi nam tử yếu hi kì
Khẳng hẹn càn khôn tự di chuyển.

Kiêu hãnh mình là đấng đại trượng phu thì phải sống cho ra sống mong muốn làm nên điều lạ (yếu hi kì). Suy rộng ra, là chẳng thể sống bình thường. Không thể sống 1 cách tiêu cực để cho trời đất (càn khôn) tự chuyển dời 1 cách vô vị, nhạt nhẽo. Câu thơ trình bày 1 tư thế, 1 tâm thế rất đẹp về chí đại trượng phu, tự tin ở đức độ và tài năng của mình, muốn làm nên sự nghiệp bự mập, xoa chuyển trời đất, như ông đã nói rõ trong 1 bài thơ khác:

Dang tay ôm chặt bồ kinh tế,
Mở mồm cười tan cuộc ân oán thù.

Gắn câu thơ với sự nghiệp cách mệnh hết sức sôi nổi của Phan Bội Châu ta mới cảm thu được cái khí người hùng của nhà nhà thơ lớn lao. Đấng đại trượng phu muốn làm nên điều lạ ở trên đời, từng nấu nung và tâm niệm theo 1 vần thơ cố:

Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch,
Lập thân tối hạ thị văn học.

(Tùy viên thi thoại – Viên Mai)

(Bữa bữa những mong ghi sử sách,
Lập thân nặng nhất đó văn học).

Đấng đại trượng phu muốn làm nên điều lạ ở trên đời đó có 1 bầu máu hot sùi sục: “Tôi được trời phú cho bầu máu hot cũng ko tới nỗi it, khi còn nhỏ đọc sách của cha tôi, mỗi lúc tới những chỗ nơi người xưa chịu chết để thành đạo nhân, nước mắt lại tầm tã bé xuống ướt đầm cả giấy…” (Ngục trung thư). Phần thực, ý thơ mở mang, tác giả tự khẳng định vai trò của mình trong xã hội và trong lịch sử:

Ư bách niên trung tu hữu ngã,
Khởi thiên tải hậu cánh vô thủy.

Ngã là ta, tu hữu ngã tức là phải có ta trong cuộc đời 1 trăm 5 (bách niên trung). Câu thơ khẳng định bộc lộ niềm kiêu hãnh mập lao của kẻ sĩ trong cảnh nước mất nhà tan. Thiên tải hậu ngàn 5 sau, là lịch sử của non sông và dân tộc há lại ko có người nào (để lại danh tiếng) ư? Hai câu 3, 4 đối nhau, lấy cái phủ định đế làm nổi trội điều khẳng định.

Ấy là 1 ý thơ thâm thúy thế hiện vai trò tư nhân trong lịch sử: chuẩn bị đảm trách mọi phận sự nhưng mà lịch sử phó thác. Ý nghĩ xinh xắn này là sự kế thừa những tư tưởng lớn lao của các vĩ nhân trong lịch sử: “Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, ngàn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng”. (Trần Quốc Tuấn).

Nhân sinh tự cổ thùy vô tử
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.

(Văn Thiên Tường)

Lấy cái hữu hạn – bách niên – của 1 đời người đối với cái vô bờ – nhân tài – của lịch sử dân tộc, Phan Bội Châu đã hình thành 1 giọng thơ đĩnh đạc. hào hùng, bộc lộ 1 cố gắng và khát vọng trong buổi lên đường. Vì vậy. trên bước đường cách mệnh giải phóng dân tộc, trải qua vô vàn thách thức và nguy hiểm, ông vẫn quật cường, sáng sủa:

Thân đó hãy còn, còn sự nghiệp,
Bao nhiêu gian nguy sợ gì đâu!

Phần luận tác giả nói về sống và chết, nói về công danh. Đây là 1 ý nghĩ rất mới lúc ta soi vào lịch sử dân tộc những 5 ám muội dưới giai cấp thống trị của thực dân Pháp. Khi quốc gia đã chết, đã bị ngoại quốc đánh chiếm, giày xé thì thân phận dân ta chỉ là kiếp ngựa trâu, có sống cũng nhơ nhuốc điếm nhục. Trong tình cảnh đó có nấu sử nghiền kinh, có chúi đầu vào tuyến đường khoa cử cũng bất nghĩa. Sách vở của thánh hiền liệu còn có lợi gì trong sự nghiệp cứu sơn hà.

Non sông đã chết, sống thêm nhục,
Hiền thánh còn đâu học của hoài.

Phan Bội Châu đã đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trước tiên. Ông nói bằng tất cả tâm huyết và tâm thành. Ông nhắc nhở mọi người phải đoạn tuyệt với lối học sĩ tử, chẳng thể đắm chìm trong khoảng hư danh, nhưng mà phải hăm hở đi tìm lí tưởng cao cả. Trong bài Bài ca chúc tết thanh niên viết vào dịp Tết 5 1927. Cụ khẩn thiết kêu gọi thanh niên:

Ai hữu chí từ nay xin gắng gỏi
Xếp bút nghiên nhưng mà tu dưỡng lấy ý thức
Đừng ham chơi, đừng ham mặc, ham ăn
Dựng gan có lên đánh tan sắt lửa
Xối máu hot rửa vết nhơ bầy tớ…

Sống như thế là sống đẹp. Sống như thế mới mong làm nên điều lạ ở trên đời, mới tự khẳng định được: Trong khoảng trăm 5 cần có tớ. Phần kết là sự kết tinh của 1 hồn thơ bay bổng đượm sắc lãng mạn:

Nguyệt trục trường phong Đông hải khứ,
Thiên trùng bạch lãng nhất loạt phi.

Thơ văn Phan Bội Châu là thơ văn tuyên truyền, khích lệ lòng yêu nước, khêu gợi lòng phẫn nộ giặc. Thơ văn Phan Bội Châu sở dĩ biến thành những nhân ái quốc vì thấm đượm xúc cảm, sục sôi tâm huyết, có nhiều hình tượng đẹp nói về cảm hứng yêu nước và lí tưởng người hùng. Hai cấu kết là 1 tỉ dụ hùng hồn: Trường phong – Ngọn gió dài. Thiên trùng bạch lãng – nghìn lớp sóng bạc, là 2 hình tượng kì vĩ. Chí khí của người chiến sĩ cách mệnh được diễn đạt qua các vị ngữ nguyện trục (mong đuổi theo) và nhất loạt phi (cùng bay lên).

Cái ko gian bát ngát nhưng mà nhà chí sĩ mong vượt qua là Đông hải. Hai thanh trắc cho âm điệu cất lên, bay lên. Âm hưởng bổng trầm đó cũng góp phần trình bày cố gắng mạnh bạo lên đường cứu nước của Phan Bội Châu. Ở đây nội lực, khả năng tranh đấu và khẩu khí của người chiến sĩ có sự hòa hợp, gắn bó và hợp nhất. Sự nghiệp cách mệnh của Phan Bội Châu đã cho hậu thế biết rõ và cảm phục điều Tiên sinh đã nói ở 2 cấu kết.

Lưu biệt lúc xuất dương là bài thơ tuyệt bút đầy nhiệt huyết. Bài thơ là ngôn ngữ kiêu hãnh của nhà chí sĩ giàu lòng yêu nước, thương dân, dám lao vào vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. 1 giọng thơ đĩnh đạc hào hùng. Tráng lệ nhất là ở 2 cấu kết. Bài thơ trình bày 1 cách thâm thúy nhất cảm hứng yêu nước và lí tưởng người hùng của nhà chí sĩ lớn lao Phan Bội Châu.

Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 13

Phan Bội Châu vốn được biết tới là 1 chí sĩ yêu nước, là 1 người chỉ huy nhiều phong trào yêu nước. Tuy tuyến đường nhưng mà Phan Bội Châu đang đi gặp nhiều hắc búa và tới rốt cuộc ông phải chịu thất bại nhưng mà ông vẫn là tấm gương sáng của lứa tuổi tương lai. Không chỉ là 1 người chí sĩ, Phan Bội Châu còn là 1 người nghệ sĩ với nhiều tác phẩm hay.

5 1905, Hội Duy Tân của có chủ trương phong trào Đông Du, và đưa thanh niên ưu tú sang Nhật. Việc này vừa nhằm mục tiêu sẵn sàng lực lượng cốt cán cho cách mệnh, vừa nhằm mục tiêu tranh thủ sự hỗ trợ của các thần thế bên ngoài. Ngày trước lúc lên đường, Phan Bội Châu đã làm bài thơ Lưu biệt lúc xuất dương để bộc bạch ý kiến và xúc cảm của mình đối với những người đồng đội, đồng chí.

Trong bài thơ Xuất dương lúc lưu biệt, Phan Bội Châu đã sử dụng tiếng nói thơ giàu sức lay chuyển. Người chí sĩ cách mệnh hiện lên trong thơ mang 1 vẻ đẹp vừa lãng mạn, vừa hào hùng. Trong buổi ra đi tìm đường cứu nước, những tư tưởng mới mẻ, táo tợn của nhà chí sĩ cách mệnh được trình bày 1 cách cháy bỏng. Mở màn bài thơ, Phan Bội Châu đã khẳng định chí làm trai ở trong trời đất:

Làm trai phải lạ ở trên đời
Há để càn khôn tự chuyển dời

Trước đây, Nguyễn Công Trứ cũng đã từng nói về chí làm trai rằng đã làm trai ở trong trời đất thì phải có danh gì với sông núi. Giờ đây, Phan Bội Châu cũng nói về chí làm trai nhưng mà viết theo 1 cách khác mới mẻ hơn. Ấy chính là làm trai thì phải làm nên được điều lạ ở trên đời.

Điều lạ ở đây có thể hiểu là đứng lên chống lại đối phương. Làm trai thì phải chủ động chứ ko nên thụ động để số mệnh cuộc đời mình cho trời đất xoay chuyển. Ấy là 1 lời thuyết phục lứa tuổi trẻ phải biết táo tợn và quyết liệt hơn nữa. Chí làm trai của Phan Bội Châu đã vượt qua cái mộng công danh lâu nay là gắn với tam cương, ngũ thường của Nho giáo. Chí làm trai của Phan Bội Châu vươn đến lí tưởng xã hội bao la và cao cả.

1 phần cảm hứng đó có nhẽ cũng xuất hành từ lý tưởng trí quân, trạch dân của nhà Nho thuở trước nhưng mà vì mang thuộc tính cách mệnh nên tư tưởng trở thành văn minh hơn. Đúng như thiên nhiên, hồng quân xoay vần là lẽ thiên nhiên nhưng mà Phan Bội Châu bác bỏ điều đấy.

Ông muốn xoay chuyển cả càn khôn chứ ko để nó tự chuyển vần. Điều này đồng nghĩa với việc Phan Bội Châu bác bỏ khuất phục số mệnh hay tình cảnh. Sang tới 2 câu thực, thi sĩ tinh thần rõ về phận sự của mình trước lịch sử, trước vận mệnh của non sông:

Trong khoảng trăm 5 cần có tớ
Sau này muôn đời há ko người nào

Không chỉ dễ dãi là công nhận sự có mặt của đối tượng trữ tình ở trên đời nhưng mà câu thơ thứ 3 còn hàm chứa 1 tâm niệm đấy là sự hiện diện của tác giả trên đời không hề điều tình cờ. Chính từ tinh thần đấy, thi sĩ tự thấy bản thân cần phải làm những điều có lợi bởi vì sau này, chắc cũng sẽ có người nối liền tuyến đường nhưng mà mình đã đi. Cái chí làm trai ko chỉ là cái lý tưởng nghĩ suy ở trong lòng tác giả nhưng mà nó được tác giả đặt vào trong tình cảnh thực tiễn của lịch sử:

Non sông đã sống chết thêm nhục
Hiền thánh còn đâu học cũng hoài

Ở mỗi thời, có nhẽ chí làm trai mỗi khác. Giả dụ ở thời bình, chí làm trai là thi đỗ, làm quan thì thời chiến, sự nghiệp học hành, đeo đuổi hiền thánh ko còn đúng nữa. Nếu non sông lâm nguy, rơi vào tay giặc thì việc học hành nào có lợi gì. Non sông nhưng mà ko còn thì sống chỉ thêm nhục. Ấy là lý tưởng của con người thời đại. Đối với Phan Bội Châu, việc hiện thời là phải đánh đuổi được giặc thù. Hai câu thơ cuối đã trình bày được khát vọng muốn vươn ra biển mập của thi sĩ:

Muốn vượt biển Đông theo cánh gió
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi

Hình ảnh trong 2 câu thơ mang tầm vũ trụ, nó làm cho ý chí của tác giả trở thành mập lao hơn, kì vĩ hơn. Tất cả mọi thứ cứ như hòa nhập lại và cùng nhau thăng hoa.

Bài thơ Lưu biệt lúc xuất dương đã có sức lay chuyển lòng người, cổ vũ ý thức tướng sĩ khi bấy giờ. Đây xứng đáng là 1 tuyệt tác nhưng mà ko chỉ lứa tuổi trước, cả lứa tuổi chúng ta, lứa tuổi sau này cũng đều rút ra được bài học cho riêng mình.

Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 14

“Con người viết văn, con người làm thơ trong Phan Bội Châu đồng tình với con người chính trị. Ngòi bút Phan Bội Châu sáng ngời chủ nghĩa yêu nước, lí tưởng người hùng”. Phan Bội Châu là người trước hết nuôi ý nghĩ đi tìm tuyến đường cứu nước mới, cả cuộc đời văn học của ông chính là cả cuộc đời cách mệnh sáng ngời. Và lúc ý chí làm trai sục sôi trong tim ông thì cũng là khi “Lưu biệt lúc xuất dương” có mặt trên thị trường, ghi lại thời khắc ông lên đường sang Nhật, giã biệt bằng hữu, đồng đội.

Đối với Phan Bội Châu, là đấng đại trượng phu là phải có chí hướng riêng cho mình, chí làm trai của đứa con đất nam, ông quan niệm:

Làm trai phải lạ ở trên đời
Há để càn khôn tự chuyển dời. ”

Con người tuy bé nhỏ nhưng mà chính ý chí, tư thế đã làm con người bự mập hơn so với vũ trụ. Và với Phan Bội Châu, “chí” để xây dựng được 1 con người hiển hách chính là chí làm trai. Làm trai là phải “lạ”, là phải biết sống cho phi thường hiển hách. Dám mưu đồ những chuyện động địa kinh thiên, xoay chuyển càn khôn. Đây là quan niệm này gần gụi với lí tưởng nhân sinh của các nhà nho thuở trước nhưng mà nó táo tợn hơn, quyết liệt hơn, con người dám đương đầu với vũ trụ, với đất trời bao la để tự khẳng định mình. Chính quan niệm vừa kế thừa truyền thống, vừa mới mẻ này đã tạo ra 1 con người, 1 Phan Bội Châu với tư thế khỏe khoắn, ngang tàn, ngạo nghễ, thử thách càn khôn. Ấy chính là tư thế chủ động trước thời cục, là lí tưởng vì nước, vì dân.

Phạm Ngũ Lão đã từng bộc bạch quan niệm về chí làm trai của mình qua 4 câu thơ của “Thuật hoài”

“Múa giáo quốc gia trải khắp thu
Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu
Công danh quân tử còn vương nợ,
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu. ”

Phạm Ngũ Lão như tinh thần được phận sự của bản thân trước thời cục, trước vận mệnh non sông. Suy nghĩ của Phạm Ngũ Lão đầy thiết thực;1 ngày còn bóng kẻ thù là nợ công danh của tuổi xanh với sơn hà, xã tắc vẫn còn vương, chưa trả hết. Dù ở cách nhau 7 thế kỉ nhưng mà quan niệm về chí làm trai của Phạm Ngũ Lão và Phan Bội Châu vẫn có nét giống nhau, nó như nền móng của bất kì bậc đại trượng phu nào cũng phải có dù ở thời nào. Phan Bội Châu đã nói rằng:

“Trong khoảng trăm 5 cần có tớ
Sau này muôn đời há ko người nào?”

Chí làm trai là phải gắn liền với tinh thần của bản thân, tinh thần về cái tôi chứ chẳng thể nào sống bình thường tẻ nhạt, buông xui theo số mệnh. Ấy là cái tôi công dân đầy phận sự trước thời cục, trước số mệnh. Bằng nghệ thuật đối ý, tác giả đã khẳng định trong 1 khoảng trăm 5 cần có sự còn đó của mình và sau này lẽ nào ko có người nào hiểu và tiếp bước của ông hay sao. Và quả đúng như lời ông nói lúc sau đấy người thanh niên Nguyễn Tất Thành – Bác Hồ lớn lao đã ra đi tìm đường cứu nước, xây dựng nên nước Việt nam dân chủ Cộng hòa.

Câu 3 vừa khẳng định dứt khoát về vai trò của cái “Tôi”, góp sức cho đời, lưu danh thiên cổ thì câu 4 lại chuyển sang nghi vấn bằng câu hỏi tu từ nhằm khẳng định quyết liệt hơn 1 khát vọng sống hiển hách, phát huy hết tài năng để góp sức cho đời. Phan Bội Châu như đã vừa khẳng định tinh thần và phận sự công dân của mình, của mọi người. Với cảm hứng lãng mạn, bay bổng gắn với hình tượng nghệ thuật kì vĩ đã gia tăng khát vọng, niềm tin, lòng yêu nước sục sôi, khẩn thiết của dân tộc.

Tới với 2 câu thơ 5, 6 chính là nhận thức, thái độ quyết liệt của kẻ làm trai trước cảnh ngộ non sông phải rơi vào tay lũ giặc, tay sai, bán nước.

“Non sông đã chết, sống thêm nhục,
Hiền thánh còn đâu học cũng hoài!”

Non sông, non sông là 1 phần hình thành con người, cốt cách, quốc gia chết ta biến thành bầy tớ thì sống chỉ thêm nhục. Giờ đây, sách vở thánh hiền chẳng còn ích gì nước lúc nước đã mất, nhà đã tan. Phan Bội Châu đã xây dựng 1 tư tưởng mới mẻ đầy táo tợn, văn minh mang đậm tính cách mệnh. Đây như lời tự bạch về nỗi đớn đau, xót xa, tủi hổ của đứa con mất nước nhưng mà lại hé mở tuyến đường cách mệnh rửa nhục sơn hà.

Hằng hà sa số ý tưởng cũng chẳng bằng 1 hành động và lúc ý chí sôi sục trong Phan Bội Châu đạt đến cực điểm thì cũng là khi ông ra đi tìm tới ánh sáng chỉnh sửa vận mệnh non sông. Ông ra đi với tư thế hiên ngang mang trong mình đầy khát vọng.

Muốn vượt bể Đông theo cánh gió,
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi. ”

Những hình ảnh mập lao, kì vĩ: Bể Đông cánh gió, muôn trùng sóng bạc như tạo cho Phan Bội Châu 1 tư thế như bay lên. Hình ảnh đó thật hào hung, lãng mạn, con người như được chắp đôi cánh thiên thần bay lên trên thực tiễn u tối, nghiệt ngã, vươn ngang tầm vũ trụ. Ấy là 1 tư thế hăm hở, đầy tâm huyết thăng hoa, 1 tấm lòng yêu nước của 1 thi sĩ, nhà cách mệnh.

“Nhân sinh trăm 5 như 1 giọt nước vươn nơi mi mắt, nhẹ như hồng mao lại nặng như thái sơn”. 1 kiếp người, nếu ta chọn cuộc sống vì mình thì cuộc sống không hề lo nghĩ vì người nào nhưng mà giương mắt nhìn non sông lầm than thì làm sao có thể yên giấc. Phan Bội đã chọn tuyến đường ra đi tìm đường cứu nước, ông chẳng thể nhìn và để bản thân mình biến thành bầy tớ. Bằng giọng thơ nhiệt huyết có sức lay chuyển mạnh bạo, “Lưu biệt lúc xuất dương” đã khắc họa vẻ đẹp hào hùng của nhà chí sĩ cách mệnh những 5 đầu thế kỉ XX, với tư tưởng mới mẻ và khát vọng cháy bỏng trong buổi đầu ra đi tìm đường cứu nước.

Xem thêm thông tin Văn mẫu lớp 11: Phân tích bài Lưu biệt khi xuất dương (Dàn ý + 14 mẫu) Phân tích Lưu biệt khi xuất dương

Văn mẫu lớp 11: Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương (Dàn ý + 14 mẫu) Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương

Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương mang lại 14 bài văn mẫu siêu hay đạt điểm cao nhất của các bạn lớp 11. Qua đấy giúp học trò có thêm nhiều gợi ý tham khảo, nắm vững tri thức căn bản, củng cố kỹ năng viết văn, mở mang vốn từ để biết cách viết bài văn hay cho riêng mình.(adsbygoogle=window.adsbygoogle||[]).push({})Lưu biệt lúc xuất dương là bài thơ tuyệt bút đầy nhiệt huyết. Bài thơ là ngôn ngữ kiêu hãnh của nhà chí sĩ giàu lòng yêu nước, thương dân, dám lao vào vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. 1 giọng thơ đĩnh đạc hào hùng. Vậy sau đây là 14 bài văn mẫu phân tách Lưu biệt lúc xuất dương, mời các bạn cùng theo dõi tại đây.Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương hay nhấtDàn ý phân tách Lưu biệt lúc xuất dươngDàn ý phân tách bài Lưu biệt lúc xuất dươngPhân tích tác phẩm Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 1Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương hay nhất – Mẫu 2Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 3Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 4Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 5Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 6Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 7Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 8Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 9Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 10Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 11Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 12Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 13Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 14(adsbygoogle=window.adsbygoogle||[]).push({})Dàn ý phân tách Lưu biệt lúc xuất dương1. Mở bài:Trình bày nói chung những nét cốt yếu nhất về cuộc đời và sự nghiệp Phan Bội Châu: Đôi nét về cuộc đời hoạt động cách mệnh và sự nghiệp văn học…Giới thiệu nói chung nội dung và nhấn mạnh tầm quan trọng của bài thơ Lưu biệt lúc xuất dương: Bài thơ đó là điển hình cho ý thức yêu nước của chính tác giả2.Thân bài:- Phân tích 2 câu thơ đầu (2 câu đề): Quan niệm về chí làm trai của Phan Bội Châu+ Tác giả nêu lên quan niệm mới: là đấng đại trượng phu phải sống với khát vọng, mong muốn làm nên điều kì dị : “ yếu hi kì”, ko cam chịu để cho trời đất xoay chuyển mình.⇒ Tư thế, 1 tâm thế đẹp về chí đại trượng phu phải tin cậy ở chừng độ và tài năng của mình ⇒ Tuyên ngôn về chí làm trai.- Hai câu thực: Khẳng định tinh thần phận sự của tư nhân trước thời cục+ Câu 3: “Tu hữu ngã” (phải có trong cuộc đời) → tinh thần phận sự của cái tôi tư nhân trước thời cục, tinh thần rõ vai trò, tầm quan trọng của tư nhân đối với vận mệnh trăm 5. Điều này đối lập với sự tự phụ tư nhân.+ Câu 4: Tác giả lại chuyển giọng nghi vấn “cánh vô thùy” (há ko người nào?) ⇒khẳng định kiên quyết hơn khát vọng sống hiển hách, phi thường, phát huy hết tài năng trí óc hiến dâng cho đời.(adsbygoogle=window.adsbygoogle||[]).push({})→ Tinh thần thâm thúy trình bày vai trò tư nhân trong lịch sử: chuẩn bị đảm trách mọi phận sự nhưng mà lịch sử phó thác.- Hai câu luận : Quan niệm về nguyên lý hành xử mới của Phan Bội Châu trước vận mệnh non sông+ Cảnh ngộ non sông: “Non sống đã chết”, non sông đã rơi vào tay giặc+ Quan niệm mới mẻ, đối lập với các tín điều xưa cũ: tinh thần về lẽ vinh nhục gắn với sự tồn vong của non sông: “sống thêm nhục :“Hiền thánh còn đâu cũng học hoài”+ Người cách mệnh cảm nhận sự tồn vong của mình trong mối quan hệ trực tiếp với sự tồn vong của dân tộc ⇒ hành động linh hoạt, luôn tiếp nhận những tư tưởng mới mẻ, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên bậc nhất, đối lập với ý kiến cứu nước bê trễ, lỗi thời của các nhà Nho đương thời.- Hai cấu kết: Tư thế và khát vọng buổi lên đường+ Tư thế lên đường của người chí sĩ thật sự hoành tráng:“Nguyện trục trường phong Đông hải khứTiên trùng bạch lãng nhất loạt phi”+ Những hình tượng kì vĩ được sử dụng: “trường phong”- ngọn gió dài, mập; “Thiên trùng bạch lãng” (nghìn lớp sóng bạc) ⇒ Tư thế hiên ngang, mong muốn mập lao mang tầm vũ trụ của người cách mệnh.⇒ Tầm vóc của ý chí con người đã mập lao hơn, ko cam chịu trói mình trong phạm vi, vượt ra ngoài vòng kiểm tỏaIII. Kết bài:Khái quát về những nét rực rỡ nghệ thuật mang đến thành công cho tác phẩm.Khẳng định lại nội dung tư tưởng của tác phẩm và liên hệ về ý chí, khát vọng của con người trong thời đại hiện tại.Dàn ý phân tách bài Lưu biệt lúc xuất dươngI. Mở bài- Phan Bội Châu (1867-1940) quê ở Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. 5 1900 đỗ Gicửa ải nguyên. Ông sáng lập ra Hội Duy Tân (1904). 5 1905, kín đáo sang Nhật, dấy lên phong trào Đông Du, tổ chức Việt Nam Quang phục hội. 5 1925, ông bị thực dân Pháp bắt cóc tại Thượng Hải, đưa về Hà Nội với cái án xử tử. Trước sức mạnh chiến đấu của dân chúng ta, chúng đưa ông về giam lỏng ở Huế.(adsbygoogle=window.adsbygoogle||[]).push({})- Là chiến sĩ yêu nước lớn lao, là nhà văn, thi sĩ mập của non sông ta trong thế kỉ 20 – Thơ văn Phan Bội Châu là thơ văn yêu nước và tuyên truyền cổ động cách mệnh sục sôi đầy tâm huyết.- Bài thơ Lưu biệt lúc xuất dương được Phan Bội Châu viết 5 1905, trong khi chia tay đồng đội, bằng hữu, trước khi kín đáo sang Nhật, dấy lên phong trào Đông Du.- Bài thơ khẳng định chí làm trai và cố gắng xuất dương, là nên sự nghiệp mập cứu nước cứu dân.II. Thân bài: Phân tích bài thơ1. Hai câu đề- Kẻ đại trượng phu phải mong có điều lạ, tức là chẳng thể sống bình thường nhưng mà phải làm nên sự nghiệp mập. Lưu lại tiếng thơm muôn thuở. Con người đó sống chủ động, hăng hái, có ý thức làm chủ tự nhiên, há để càn khôn tự chuyển dời?2. Hai câu thực- Tác giả tự tinh thần về cái Tôi (ngã: tôi, tớ). Rất kiêu hãnh về vai trò của mình trong cuộc đời (1 trăm 5) và trong xã hội, lịch sử (nghìn 5 sau).- Tác giả hỏi: Chẳng lẽ nghìn 5 sau, lại ko có người nào (để lại danh tiếng) ư? Nhằm khẳng định 1 ý nghĩ lớn lao nhưng mà như người đồng hương của Phan Bội Châu trước đấy nửa thế kỉ đã nhiều lần rồi:Đã mang tai mang tiếng ở trong trời đất,Phcửa ải có danh gì với sông núi.(Nguyễn Công Trứ)- Quan niệm về công danh, về chí đại trượng phu của Phan Bội Châu mới mẻ, văn minh, hướng về Đất nước và dân chúng, như ông đã viết: Xối máu hot rửa vết nhơ bầy tớ. Tất cả vì nước, vì dân chứ không hề vì nghĩa vua – tôi: “Dân là dân nước, nước là nước dân”.3. Hai câu luận- Nêu lên 1 quan niệm sống đẹp của kẻ sĩ trước thời cục và lịch sử dân tộc. Non sông đã chết, 1 cách nói rất hay, cảm động về nỗi đau thương của non sông ta, dân chúng ta đang bị thực dân Pháp thông trị. Trong Hải ngoại huyết thư, tác giả viết: hồn nước chơ vơ. Kẻ đại trượng phu, kẻ sĩ lập công danh trước tiên bằng tuyến đường học hành và thi cử. 1 ý thơ phủ định về cách học cũ kĩ lỗi thời là đọc sách thánh hiền (nho giáo)… cách học đó rất lỗi thời, bất nghĩa, càng học càng ngu, càng u mê. Đây là 2 câu có tư tưởng thâm thúy, văn minh nhất, cho thấy Phan Bội Châu là 1 chí sĩ đi đầu:(adsbygoogle=window.adsbygoogle||[]).push({})Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế,Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si.4. Hai câu kết- Hình tượng thơ kì vĩ lên 1 chí mập mang tầm vũ trụ. Không phải gió nhẹ nhưng mà là trường phong. Không phải quẩn quanh chốn quan trường hoặc nơi trường ốc chật hẹp, nhưng mà là đi ra biển Đông với 1 sức mạnh phi thường, cùng bay lên với nghìn lớp sóng bạc. Đây là những câu thơ cuốn hút nhất của Phan Bội Châu bộc lộ 1 bầu tâm huyết:Nguyện trục trường phong Đông hải khứ,Thiên trùng bạch lãng nhất loạt phi.III. Kết bài- Vẫn là thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, bằng chữ Hán. Giọng thơ nghiêm trang, đĩnh đạc hào hùng, mạnh bạo, quyến rũ.- Thể hiện 1 chí mập phi thường: ko cam tâm làm bầy tớ, quyết đi tìm đường cứu nước. Không phải là khẩu khí nhưng mà sự thực lịch sử đã công nhận Phan Bội Châu đã sống và hành động như thơ ông đã viết ra.- Lưu biệt lúc xuất dương mang âm điệu người hùng ca, tràn đầy tình yêu nước và cố gắng lên đường cứu nước.Phân tích tác phẩm Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 1Phan Bội Châu được coi là 1 trong số những người hùng kiệt xuất có tầm tác động mập đối với cách mệnh Việt Nam trong những 5 đầu của thế kỉ XX. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mệnh của mình ông chưa 1 lần thừa hưởng thú vui thắng lợi nhưng mà tình yêu non sông, khát vọng hòa bình và ý chí chiến đấu của ông luôn là ngọn lửa tiếp thêm tâm huyết, say mê cho nhiều lứa tuổi sau này. Nhưng trước tiên, thơ ca là trận mạc để ông biểu thị điều đó. Lưu biệt lúc xuất dương là 1 bài thơ như thế. Ra đời vào thời khắc, thi sĩ sẵn sàng lên đường sang Nhật để tiến hành chí mập, tác phẩm đã trình bày niềm khao khát mãnh liệt, mong đợi 1 sự nghiệp kinh bang tế thế chỉnh sửa vận mệnh cho sơn hà:Làm trai phải lạ ở trên đời…Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơiBài thơ bắt đầu bằng 1 quan niệm rất không xa lạ của Nho giáo: chí làm trai.Làm trai phải lạ ở trên đời,Há để càn khôn tự chuyển dời.Nếu đặt trong mạch nguồn của thơ ca trung đại, việc nói đến tới lý tưởng xã hội này là điều rất dễ thấy. Danh tướng đời Trần Phạm Ngũ Lão và sau này là bậc nho sĩ a ma tơ Nguyễn Công Trứ đã từng nói đến.Công danh nam tử còn vương nợ,Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu(Tỏ lòng – Phạm Ngũ Lão)Đã mang tai mang tiếng ở trong trời đất,Phcửa ải có danh gì với sông núi.(Đi thi tự vịnh – Nguyễn Công Trứ)Cái chí của đấng đại trượng phu ở đây là công, là danh. Họ trông vào đấy nhưng mà kiếm tìm sự nghiệp, khẳng định bản thân mình trước cuộc đời, trước mọi người. Nhưng cách trình bày của Phan tiên sinh trong bài thơ này lại gây 1 ấn tượng mạnh. Cái chí của kẻ làm trai lại trở thành kì vĩ, mập lao. Bởi nó được đặt trong 1 ko gian đặc trưng, đấy là vũ trụ. Nếu nhìn từ ko gian đó, bậc đại trượng phu sẽ còn có nhiều khát khao hơn là công và danh. Chữ lạ trong bản dịch thơ tuy hay nhưng mà chưa làm toát lên được ý nghĩa từ chữ kì trong văn bản gốc. Làm trai phải lạ cần được hiểu là làm được những việc kì dị, kiệt xuất, phi thường. Muốn làm được điều đó, người quân tử phải được đặt trong 1 ko gian chẳng thể là trên đời được, nhưng mà phải là càn khôn. Vì “đời” tưởng rộng nhưng mà hóa ra lại hẹp, mới chỉ là toàn cầu nhân loại, còn “càn khôn” là vũ trụ rộng lớn. Cho nên cái hay trong 2 câu đề là ko gian đó tới câu thứ 2 mới hiện ra, nó làm tôn lên hình ảnh 1 bậc đại trượng phu nam nhi, anh hào dõng dạc hô vang ở câu đầu rằng phải lạ. Có tức là đấng nam tử đâu chỉ trông mong, tiêu cực, phó mặc cho tạo hóa xoay vần, nhưng mà phải chủ động, lao vào chỉnh sửa cả càn khôn, trời đất, cải tạo cả vũ trụ, sơn hà. Mạnh bạo hơn là phải biết sống hiển hách, dám mưu đồ những việc mập, động địa kinh thiên, non sông lâm nguy hoá ra tay cứu nước, chỉnh sửa lịch sử. Cảm hứng sử thi, lãng mạn đã nâng tầm chí làm trai lên 1 dung mạo mới. Đặt trong bối cảnh có mặt trên thị trường bài thơ, hình ảnh đấng đại trượng phu mang tầm vóc vũ trụ đó đã bắt đầu cho 1 khúc khải hoàn ca đầy hùng tráng, phi thường về ý chí và ý thức yêu nước.(adsbygoogle=window.adsbygoogle||[]).push({})Hai câu đề đã mở ra ko gian bao la, tới 2 câu thực lại mang đến độ tối đa chỉ cần khoảng của đời người:Trong khoảng trăm 5 cần có tớ,Sau này muôn đời, há ko người nào?Trong quan niệm chung về đấng đại trượng phu ở trên, Phan Bội Châu đã nêu lên được tinh thần tư nhân đầy khẳng khái của bản thân mình. Tới 2 câu này, tinh thần tư nhân đó càng rõ hơn. Có thể hiểu trong vòng 1 trăm 5 này, chẳng thể thiếu được ta. Ta phải biến thành đối tượng lịch sử, ta có sứ mạng xoay chuyển càn khôn để chỉnh sửa cả gương mặt lịch sử của thế kỉ này. Ta bỗng vút lên giữa cái hết sức bất tận của ko gian và thời kì như thế, bảo sao lại ko nguy nga, lộng lẫy. Chữ tớ dịch khá thú vị, vừa có chút dí dỏm vừa vẫn khẳng định cái tôi đầy mạnh bạo. Tinh thần tư nhân được vươn cao, vươn rộng theo ko gian và còn vươn dài theo cả thời kì nâng tầm nhận thức cao cả về sứ mạng của con người trước lịch sử. Cái tôi như thế thật là vừa lãng mạn vừa hùng dũng!Xoay chuyển càn khôn, làm chủ lịch sử tưởng hình như đã quá bự tát, đó vậy nhưng mà cái phải lạ của bậc hào kiệt còn khiến người ta bất thần hơn:Non sông đã chết, sống thêm nhụcHiền thánh còn đâu, học cũng hoài.Trong bối cảnh của sự chuyển giao thời đại, dẫu có mới mẻ tới đâu cũng vẫn phải có sự chỉnh sửa dần dần. Nhưng nhận thức của Phan tiên sinh lại khiến người ta thấy thật phi thường. Đúng quốc gia đã chết là cách nhân hóa rất sống động cho hiện nay của sơn hà. Kẻ địch ngoại quốc chiếm lấy chủ quyền thì coi như non sông đã chết. Câu thơ uất nghẹn trước thực trạng đau thương của dân tộc. Nhưng cái mạnh bạo của đấng đại trượng phu trước Đất nước như thế bắt buộc nhìn thấy sống chỉ thêm nhục. Vì vậy cái cần nhất, cái lý tưởng nhất của 1 thời hiền thánh giờ cũng chẳng còn ý nghĩa, có đọc sách cũng ngu thôi. Vậy là 2 thứ quan trọng đó nhưng mà còn tiếp diễn sống, tiếp diễn học thì chẳng khác nào đã để tự mình phó mặc cho số mệnh, để càn khôn nó tự chuyển dời, để tiếp diễn sống 1 trăm 5 đầy bất nghĩa. Có nhẽ vậy nhưng mà, cuộc đời Phan Sào Nam tuy sống toàn vẹn trong cảnh non sông lầm than, trải qua bao lần thất bại đớn đau nhưng mà ông vẫn góp sức đầy hiển hách, quang vinh. Hai câu thơ đã chứng tỏ 1 sự chuyển mình của thời đại, nếu nói ko quá lên, thật là lớn lao. Nhận ra lẽ vinh nhục trong cảnh non sông đó là thường tình, nhưng mà dám chối bỏ, phủ định cả 1 nền học vấn của 1 kẻ vốn xuất thân từ cửa Khổng, sân Trình như cụ Phan, thì đấy là 1 điều rất phi thường.Vậy chẳng thể sống như thế với thực tại, muốn mưu đồ việc xoay chuyển càn khôn phải tiến tới hành động. Và hành động đó chỉ có thể là xuất dương.Muốn vượt bể đông theo cánh gió,Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.Hai cấu kết thật đẹp! Hình ảnh mô tả có phần ước lệ biểu tượng hình thành 1 cảnh tượng biển trời, gió bão, sóng bạc thật hùng vĩ. Nó làm toát lên cái hùng tâm tráng trí của kẻ sĩ yêu nước cháy bỏng nhưng mà ở câu thơ cuối: thiên trùng bạch lãng nhất loạt phi, bản dịch chưa làm toát lên được. Đúng hơn là biển bát ngát, gió mênh mông, sóng bạc muôn trùng và ý chí, khát vọng của con người cùng nhau hòa quện làm 1 nhưng mà nhất loạt phi (cùng bay lên). Tâm té ra đi cũng bao la, nguy nga như biển trời vậy. Có cái hào sảng, cố gắng, mạnh bạo, tâm huyết lúc lên đường. Người ở lại – bằng hữu bạn hữu, cứng cáp cảm thu được khát vọng, lý tưởng trong hành động kiệt xuất của con người kiệt xuất đó.(adsbygoogle=window.adsbygoogle||[]).push({})Bài thơ khép lại trong 1 niềm hoan hỉ, hứng khởi trào dâng mãnh liệt của nhà chí sĩ cách mệnh trong buổi ra đi tìm đường cứu nước. Sự liên kết đầy mới mẻ giữa cách trình bày đậm chất thơ văn trung đại với những tư tưởng nội dung đậm hơi thở của nhịp sống đương thời đã hình tượng hóa 1 cách lãng mạn và hào hùng của người chí sĩ yêu nước những 5 đầu thế kỉ XX. Giọng thơ tâm huyết, lay chuyển này đã tiếp thêm sức mạnh, đã thổi bùng khao khát cho biết bao kẻ sĩ thời đó có mong muốn tiến hành chí mập vì sự nghiệp dân tộc của mình.Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương hay nhất – Mẫu 2Trong nền văn chương Việt Nam có những thi sĩ còn là những nhà chính trị tài 3, những người hùng cứu nước. Giả dụ chúng ta biết tới Hồ Chí Minh, 1 người ko bao giờ tự xưng là thi sĩ nhà văn nhưng mà trong giai đoạn hoạt động cách mệnh lại những vần thơ hay, Tố Hữu cũng là 1 thi sĩ cùng lúc là 1 chiến sĩ chiến đấu cách mệnh thì ta cũng chẳng thể nào ko nói đến Phan Bội Châu. Ông là 1 nhà cách mệnh hết dạ vì sự nghiệp non sông. Cũng giống như Hồ Chí Minh thì Phan Bội Châu cũng có những sáng tác văn chương nhất mực. Trong số những sáng tác của ông phải kể tới bài thơ Xuất dương lưu biệtBài thơ này được sáng tác vào cuối thế kỉ XIX, phong trào Cần Vương thất bại, thực dân Pháp chiếm toàn phần Đông Dương. Tình hình chính trị của non sông hết sức hỗn loạn. 5 1905 sau lúc thành lập hội Duy Tân, hội đã chủ trương cho Phan Bội Châu ra nước ngoài hoạt động cách mệnh. Trong bữa cơm chia tay anh em đồng đội để lên đường Phan Bội châu đã làm bài thơ này để thay lời chia tay họ. Bài thơ trình bày rất rõ ý chí làm trai và ý chí của 1 người cách mệnh.Hai câu thơ đầu trình bày rất rõ chí làm trai của Phan Bội Châu nói riêng và của thời phong kiến khái quát:“Sinh vi nam tử yếu hy kỳ,Khẳng hẹn càn khôn tự di chuyển.”(Làm trai phải lạ ở trên đờiHá để càn khôn tự chuyển dời)Nhắc đến chí làm trai hẳn người nào trong chúng ta cũng từng biết tới những quan niệm về chí làm trai của Nguyễn Công Trứ và Phạm Ngũ Lão:“Chí làm trai nam bắc tây đôngCho phỉ chí người hùng trong 4 bể”Hay“Công danh nam tử còn vương nợLuống thẹn tai nghe thuyết Vũ hầu”Và tới Phan Bội Châu lại tiếp diễn nêu lên chí làm trai thời phong kiến. Thế nhưng mà trước sự tác động cái mới của thời đại mình thi sĩ đã kế thừa những quan niệm xưa của ông cha và nêu lên những cái mới trong quan niệm chí làm trai của mình. Làm trai thì phải làm những việc lạ tức là làm những việc hiển hách phi thường. Dám làm những việc động địa kinh thiên xoay chuyển đất trời chứ chẳng thể ngồi im để mặc cho đất trời xoay chuyển mình được. Phcửa ải chăng đấy chính là khát vọng sống mãnh liệt của chàng trai đầy tâm huyết với cuộc đời. Cảm hứng đó gần gụi với những triết lý nhân sinh của đạo nho nhưng mà cũng cùng lúc mang nét táo tợn mới mẻ hơn. Con người chúng ta luôn phải chiều theo sự xoay chuyển của trời đất những tác giả ở đây lại chẳng thể để cho càn khôn tự chuyển dời được. Chính vì vậy nhưng mà thi sĩ trình bày được lý tưởng sống của 1 con người khỏe khoắn ngang tàng.Hai câu thực thi sĩ tiếp diễn đi vào làm rõ chí làm trai của mình. Càng nói ra càng thấy Phan Bội Châu quả là 1 vị người hùng tài năng và đầy khí phách:“Trong khoảng trăm 5 cần có tớSau này muôn đời há ko người nào?”Thời gian khoảng trăm 5 là 1 đời con người, tác giả khẳng định trong vòng trăm 5 đó cần có tác giả. 1 đời người hay chính là hiện nay đó phải cần có 1 người hùng với chí làm trai mạnh bạo táo tợn của thi sĩ. Ở đây ta thấy hiện ra cái tôi tư nhân biệt lập. Nhưng ở cái tôi đó ta cảm thu được cái tôi bé nhỏ, tinh thần tư nhân với nhân cách là 1 công dân với ý thức phận sự với non sông mình. Ấy tuyệt nhiên không hề cái tôi ngạo nghễ nghênh ngang. Cái tôi đó được thi sĩ xưng là “tớ” trình bày sự gần gụi. Trong trăm 5 đó 1 bậc nam nhi sống không hề để hưởng hết những lạc thú của cuộc đời nhưng mà để góp sức tài trí của mình cho non sông. Hiện tại có thi sĩ thì sau này chẳng nhẽ lại ko có người nào là người hùng thật sự. Nói như thế thi sĩ như khẳng định những bậc người hùng anh hào nước ta lẽ nào cũng có. Tác giả cũng trình bày được sự kiêu hãnh về bản thân mình. Câu thơ có bề ngoài là 1 câu nghi vấn song bản chất nó có chức năng làm nâng cấp độ ý chí muốn làm những việc mập để góp sức hết mình đất nước thân thương.(adsbygoogle=window.adsbygoogle||[]).push({})Không những thế chí làm trai còn gắn liền với vận mệnh non sông, sự vinh nhục được trình bày rất rõ:“Non sông đã mất, sống thêm nhụcHiền thánh còn đâu, học cũng hoài”Non sông đã mất trình bày cảnh tượng sơn hà rơi vào tay giặc, tất cả dân chúng phải chịu giai cấp thống trị bầy tớ của giặc, hàng ngày họ phải sống trong cảnh áp bức bóc lột. Đối với 1 bậc lang quân lúc phải sống trong cảnh nước mắt đó thì coi như đã chết rồi. Chính vì vậy nhưng mà ông đưa ra ý nghĩ bỏ sách thánh hiền. Ấy là 1 ý nghĩ táo tợn nhưng mà lại mang sự văn minh. Đối với thi sĩ thì cảnh ngộ non sông như thế ko còn học đạo vua tôi, đạo sơ chung. Bởi vì theo thi sĩ sách thánh hiền lúc đó chẳng giúp ích gì được cho cảnh nước mất nhà tan, nếu cứ bo bo ôm giữ thì chỉ là ngu nhưng mà thôi. Tuy nhiên không hề thi sĩ phủ nhân hết những ích lợi của sách thánh hiền, nếu nói như thế chẳng khác nào cha ông ta ngu lúc đọc sách đấy. Nhưng điều tác giả muốn khẳng định là lúc đó đọc sách thánh hiền ko có tác dung và không liên quan với tình cảnh non sông.Từ những ý niệm về chí làm trai lúc sống là 1 bậc lang quân trên cuộc đời, cộng với những diễn biến phức tạp của lịch sử Phan Bội Châu trình bày ước vọng và mong muốn của mình:“Muốn vượt bể Đông theo cánh gióMuôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.”Hình ảnh đó “bể đông theo cánh gió” và “muôn trùng sóng bạc” là 2 hình ảnh mang thuộc tính hào hoa lãng mạn trình bày được khao khát cao đẹp mãnh liệt của thi sĩ. Phan Bội châu muốn vượt lên thực tại ám muội của non sông để cố gắng lên đường làm nghiệp mập bảo vệ cho non sông cũng chính là bảo vệ cho sự sống còn và vinh nhục của chí làm trai. Nhà thơ muốn vượt bể Đông để theo cánh gió, cái cánh gió đó sẽ đưa ông tới những mảnh đất tân tiến ở đấy ông sẽ học tập và đem những gì mình học được về cứu non sông. Muôn trùng sóng bạc như đưa chân người người hùng đi làm chí mập.Tóm lại cả bài thơ là 1 quan niệm chí làm trai của Phan Bội Châu. Đối với ông chí làm trai đó phải làm được những điều hiển hách được ghi tên trong bảng vàng lưu danh muôn thuở. Vận mệnh của chí làm trai gắn liền với vận mệnh của non sông. Với giọng điệu hào hùng nghiêm trang, cách sử dụng từ ngữ thu hút quyến rũ bài thơ hiện lên như 1 bài ca hào hùng về chí làm trai. Nó nghe đâu tiếp sức cho Phan Bội Châu đi trên tuyến đường cứu nước.Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 3Phan Bội Châu được nói đến là người trước hết trong lịch sử Việt Nam có tinh thần dùng văn học để di chuyển, tuyên truyền cách mệnh. Ông cũng chính là người khơi dòng cho loại văn học trữ tình chính trị. Trong đấy, bài thơ ” Lưu biệt lúc xuất dương ” là 1 tác phẩm điển hình.Đây là bài thơ được viết trong bữa cơm ngày Tết nhưng mà Phan Bội Châu đã tổ chức ở nhà mình để chia tay với các bằng hữu, đồng đội trước khi lên đường sang Nhật Bản 5 1905. “Lưu biệt lúc xuất dương” đã trình bày ý nghĩ mập lao, mới mẻ đầy phận sự của tác giả, trình bày niềm hăm hở, cố gắng cao độ trong buổi đầu vượt biển đi ra nước ngoài để “mưu sự phục quốc”.Chí làm trai đã được nói đến trong văn chương từ thời xa xưa nhưng mà đặc trưng được đề cao ở thời gian cơ chế phong kiến, thời gian đạo Nho tăng trưởng mạnh bạo. Nam nhi phải có công danh, sự nghiệp thì mới đáng làm trai. Chẳng vậy nhưng mà trong bài thơ “Tỏ lòng”, Phạm Ngũ Lão đã viết: “Công danh nam tử còn vương nợLuống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”Hay Nguyễn Công Trứ cũng từng viết: “Chí làm trai nam, bắc, tây, đôngCho phỉ sức tung hoành trong 4 bể”.Muốn biến thành bậc đại trượng phu được mọi người xác nhận thì phải biết cố gắng, lập được công tích, có được danh vọng, có sức vóc “tung hoành” khắp 4 bể để chứng minh tài năng, khả năng của bản thân. Kế thừa tư tưởng đó của Nho giáo, Phan Bội Châu đã đưa ra 1 ý kiến về chí làm trai như 1 tuyên ngôn đầy khí thế: “Sinh vi nam tử yếu hi kỳ,Khẳng hẹn càn khôn tự di chuyển”.Trước hết, ông cho rằng, làm trai phải “lạ”, có tức là phải sống khác mọi người, ko được giống với bất kì người nào để hình thành điểm biệt lập. “Lạ” cũng có tức là điều phi thường, hiển hách, xoay chuyển cả trời đất. Ấy là lối sống chủ động, ko chùn bước, nản lòng để mặc cho tình cảnh chi phối nhưng mà phải có khả năng để chi phối tình cảnh. Nhân vật trữ tình dám đương đầu với càn khôn, đất trời, vũ trụ để tự khẳng định bản thân, cố gắng đạt được giấc mộng công danh. Phan Bội Châu ấp ôm khát vọng xoay chuyển được càn khôn chứ ko để “càn khôn tự chuyển dời”. Ông ko đầu hàng, khuất phục trước số mệnh, tình cảnh nhưng mà dùng chính bản lĩnh của mình để chỉnh sửa tình cảnh. Có thể nói, chí làm trai của ông là chí làm trai của 1 đấng đại trượng phu hiên ngang trong vũ trụ, dám ngão nghệ và thử thách với trời đất.Con người mang tầm vóc mập lao, tầm vóc vũ trụ đó luôn mang trong mình tinh thần, phận sự của tư nhân trước thời cục: “Ư bách niên trung tu hữu ngã,Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy”Trong cuộc đời trăm 5 hữu hạn, Phan Bội Châu muốn góp sức sức mình cho non sông, làm nên những công tích phi thường, mập lao để xứng đáng làm 1 đại trượng phu lưu danh vào thiên cổ nghìn 5. Tác giả đã tự khẳng định bản thân mình, đây là cái tôi mang đầy phận sự, chủ động hăng hái chứ không hề cái tôi vị kỉ, chỉ biết lo nghĩ cho ích lợi của tư nhân. Ở 2 câu thực có sự đối nhau hài hòa giữa sự vô bờ của thời kì và sự hữu hạn của đời người, Phan Bội Châu dùng cái phủ định để làm nền, làm nổi trội lên điều ông khẳng định. Ông muốn làm những điều phi thường, lưu lại danh tiếng của mình trong sử sách để ko hổ hang với chí làm trai nhưng mà mình đã lấy làm lí tưởng sống. Hiến dâng cho đời vừa là trách nhiệm vừa là phận sự của bậc lang quân. Trong 1 trăm 5 hữu hạn đó, người đại trượng phu phải tiến hành được chí làm trai và cũng trong nghìn 5 sau đấy phải để lại được tiếng thơm cho đời. Hai câu thơ như lời giục giã khơi dậy ý thức lao vào vì nghĩa mập của con người, đặc trưng là những thanh niên trai tráng phải góp vô cùng mình vào công cuộc cứu nước, tìm ra hướng đi mới cho dân tộc.(adsbygoogle=window.adsbygoogle||[]).push({})Gắn với tình cảnh thực tại của non sông, Phan Bội Châu đã nêu lên phận sự nhưng mà người đại trượng phu cần có đối với vận mệnh dân tộc: “Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế,Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si “Quốc gia bị xâm lăng, quốc gia cũng ko còn nữa thì ta có sống cũng chỉ chuốc lấy sự điếm nhục, ê chề. Sách vở, người có học vấn cũng biến thành bất nghĩa lúc chủ quyền non sông bị xâm phạm. Nhiệm vụ giải phóng dân tộc được ông đặt lên bậc nhất bởi ông tinh thần được thời cục. Sách vở cũng ko có ý nghĩa gì lúc nước mất nhà tan. Việc làm quan trọng và thiết thực nhất khi bấy giờ là tìm được tuyến đường, hướng đi cho non sông để thoát khỏi sự xâm lăng, bóc lột của thực dân Pháp. Phan Bội Châu là 1 người tình nước và ông cũng mong rằng phong trào Đông du do mình chỉ huy sẽ gặt hái được nhiều thành tựu giúp ích cho sơn hà. Kế bên đấy, 2 câu luận cũng có ý nghĩa thức tỉnh những con người có tấm lòng yêu nước. Đây cũng là khi để họ xoay chuyển càn khôn, xoay chuyển cục diện, tình hình của dân tộc.Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 4Phan Bội Châu (1867-1940), ôi cái tên đẹp 1 thời. “Chúng ta có thể nói rằng trong lịch sử giải phóng dân tộc của dân chúng Việt Nam, trước Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phan Bội Châu là 1 đối tượng lớn lao” (Tôn Quang Phiệt). Phan Bội Châu là vong linh của các phong trào di chuyển giải phóng Đất nước khoảng 25 5 đầu thế kỉ XX. Danh tiếng ông gắn liền với các tổ chức yêu nước như Hội Duy Tân, phong trào Đông du, Việt Nam Quang Phục Hội. Danh tiếng Phan Bội Châu gắn liền với hàng trăm bài thơ, hàng chục cuốn sách, 1 số bài văn tế và vài 3 vở tuồng tràn đầy tình yêu nước. “Phan Bội Châu câu thơ dậy sóng” (Tố Hữu).5 1900, Phan Bội Châu đậu hương nguyên khoa thi Hương trường Nghệ 5 1904 ông sáng lập ra Hội Duy Tân, 1 tổ chức yêu nước. 5 1905 ông dấy lên phong trào Đông du. Theo chủ trương của Duy Tân hội do chính ông sáng lập, ông khởi đầu sang Nhật để tìm đường cứu nước. Bài thơ “Xuất dương lưu biệt” ông làm tặng các đồng đội trong buổi đầu lên đường. Có thể nói bài thơ này như 1 mốc son chói lọi trong sư nghiệp giải phóng dân tộc của nhà chí sĩ Phan Bội Châu.“Xuất dương lưu biệt” được viết bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, là khúc ca bộc lộ tư thế, cố gắng hăm hở, và những ý tưởng cao cả mới mẻ của chí sĩ Phan Bội Châu trong buổi đầu xuất dương cứu nước.Hai câu để là 1 tuyên ngôn về chí hướng, về lẽ sống cao cả: “Sinh vi nam tử yếu hi kìKhẳng hẹn càn khôn tự di chuyển”Kiêu hãnh mình là đấng đại trượng phu thì phải sống cho ra sống, mong muốn làm nên “điều lạ” (yêu hi kì). Suy rộng ra, là chẳng thể sống bình thường. Không thể sống 1 cách tiêu cực cho trời đất (càn khôn) “tự chuyển dời” 1 cách vô vị, nhạt nhẽo. Câu thơ trình bày 1 tư thế, 1 tâm thế đẹp về chí đại trượng phu, tự tin ở chừng độ, tài năng của mình muốn làm nên sự nghiệp bự mập, xoay chuyển trời đất, như ông đã nói rõ trong 1 bài thơ khác: “Dang tay ôm chặt bồ kinh tế,Mở mồm cười tan cuộc ân oán thù”.Gắn câu thơ với sự nghiệp cách mạnh hết sức sôi nổi của Phan Bội Châu, ta mới cảm thu được cái khẩu khí người hùng của nhà chí sĩ lớn lao. Đấng đại trượng phu muốn làm nên “điều lạ” ở trên đời, từng nấu nung và tâm niệm theo 1 vần thơ cổ: “Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch,Lập thân tối hạ thị văn học ”(“Tùy viên thi thoại” – Viên Mai)Đấng đại trượng phu muốn làm nên “điều lạ” ở trên đời đó có 1 “bầu máu hot” sục sôi: “Tôi được trời phú cho bầu máu hot cũng ko tới nỗi ít, khi còn nhỏ đọc sách của cha tôi, mỗi lúc đèn những chỗ nói người xưa chịu thuế để thành đạo nhân, nước mắt lại tầm tã bé xuống ướt đầm cả giấy…” (Ngục trung thư).Phần thực, ý thơ được mở mang, tác giả tự khẳng định vai trò của mình trong xã hội và trong lịch sử: “Ư bách niên trung tu hữu ngãKhởi thiên tải hậu cánh vô thùy”“Ngã” là ta: “tu hữu ngã” tức là phải có ta trong cuộc đời “1 trăm 5 ” (bách niên trung). Câu thơ khẳng định, bộc lộ niềm kiêu hãnh mập lao của kẻ sĩ trong cảnh nước mất nhà tan. “Thiên tải hậu” ngàn 5 sau, là lịch sử của non sông và dân tộc há lại ko có người nào (để lại danh tiếng) ư? Hai câu 3, 4 đối nhau, lấy cái phủ định để làm nổi trội điều khẳng định. Ấy là 1 ý thơ thâm thúy trình bày vai trò tư nhân trong lịch sử: chuẩn bị đảm trách mọi phận sự nhưng mà lịch sử phó thác. Ý nghĩ xinh xắn này là sự kế thừa những tư tưởng lớn lao của các vĩ nhân trong lịch sử: “… Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, ngàn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng”. (“Hịch tướng sĩ’ – Trần Quốc Tuấn) “… Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh”.(Văn Thiên Tường)Lấy cái hữu hạn “bách niên” của 1 đời người đối với cái vô bờ “thiên tải” của lịch sử dân tộc. Phan Bội Châu đã hình thành 1 giọng thơ đĩnh đạc, hào hùng, bộc lộ 1 cố gắng và khát vọng trong buổi lên đường. Vì vậy, trên bước đường cách mệnh giải phóng dân tộc, trải qua vô vàn thách thức và gian nguy, ông vẫn quật cường, sáng sủa.Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 5Phan Bội Châu nhà yêu nước, người hùng giải phóng dân tộc lừng danh trong lịch sử đương đại Việt Nam, Phan Bội Châu chính là người chủ xướng các phong trào giải phóng Đất nước trong những 5 đầu thế kỉ XX như Hội Duy Tân, phong trào Đông du, Việt Nam Quang Phục Hội. Danh tiếng của ông cũng lừng danh với nhiều bài thơ, cuốn sách, bài văn tế…Phan Bội Châu luôn mang trong mình lý tưởng, khát vọng giải phóng dân tộc và xây dựng non sông dân chủ văn minh.“Lưu biệt lúc xuất dương” được viết bằng chữ Hán, thể thất ngôn bát cú Đường luật, bài thơ trình bày vẻ đẹp lãng mạn, hào hùng trong đầu thế kỉ XX : táo tợn, tâm huyết lý tưởng giải phóng dân tộc luôn dâng cao. Ông đã cho người đọc thấy được ko khí cách mệnh sôi sục quá trình đầu thế kỉ XX của những con người tình nước và văn minh của sơn hà.Mở màn bài thơ như là 1 tuyên ngôn lí tưởng: “Sinh vi nam tử yếu hi kì,Khẳng hẹn càn khôn tự di chuyển.”Làm trai trong trời đất chẳng thể sống bình thường, ko được sống tiêu cực cho trời đất “tự chuyển dời”. Câu thơ bắt đầu đã trình bày tư thế, ý chí đại trượng phu, tài năng của người cách mệnh mong muốn làm nên sự nghiệp mập, xoay chuyển trời đất.Tiếp tục bài thơ tác giả khẳng định: Ư bách niên trung tu hữu ngã,Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy.Tác giả đã khẳng định mạnh bạo và đầy khí phách về sức mạnh con người trước càn khôn. Sự đề cao cái Tôi của thi sĩ chính là khẳng định phận sự của người thanh niên yêu nước đối với vận mệnh dân tộc. Câu thơ cũng khiến cho nhiều người giác ngộ và khêu gợi sự ý thức chiến đấu. Tác giả Phan Bội Châu như muốn ra công kêu gọi sự đấu tranh của những con người tình nước.Những đoạn thơ trước hết tác giả đã khẳng định chí đại trượng phu, đoạn sau nói về phận sự của đại trượng phu: Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế,Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc siKhi non sông đang bị xâm chiếm, quốc gia đã chết, ta sống chỉ thêm sự điếm nhục, đớn đau. Trong tình cảnh nước mất nhà tan, người học có vùi mài kinh sử cũng trở thành bất nghĩa. Vào thời khắc đấy, ý muốn ra đi tìm đường cứu nước là lí tưởng của thời đại. Câu thơ trên ko có ý chê bai việc học nhưng mà chỉ có ý khuyên con người ta phải sống với thời cục trước mắt. Câu thơ trên còn trình bày nỗi đau của tác giả trong khi non sông suy vong, nhân dân lầm than, đạo đức xã hội xuống cấp đã khiến con người có phận sự với dân tộc trông thấy nhưng mà lòng quặn đau.(adsbygoogle=window.adsbygoogle||[]).push({})Đoạn kết của bài thơ Lưu biệt lúc xuất dương đã trình bày cố gắng, ý chí , hi vọng mập của tác giả trên tuyến đường mình đã chọn: Nguyện trục trường phong Đông hải khứ,Thiên trùng bạch lãng nhất loạt phi.Giọng thơ sôi sục, ngập tràn hi vọng và cố gắng đi tới nước Nhật để tìm tuyến đường cứu nước. Hình ảnh chấm dứt bài thơ hết sức mạnh bạo, hào hùng, đấy là sự khí phách của con người bắt kịp với thời đại mới. Với hi vọng về tương lai tươi sáng hơn.Bài thơ giọng điệu hào hùng, từ ngữ thu hút là 1 bài ca hào hùng về chí làm trai nguyện lao vào mình vào sự nghiệp cứu nước của dân tộc. Bài thơ mãi là tấm gương nhưng mà thiên hạ luôn noi theo.Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 6Năm 1858 thực dân Pháp xâm lăng Việt Nam chúng thi hành cơ chế bóc lột sức lao động, đàn áp các cuộc chiến đấu của dân chúng ta trong bể máu, làm cho lòng dân hết sức căm thù. Chính điều đấy đã thôi thúc các nhà yêu nước nấu nung tuyến đường giải phóng dân tộc. Tiêu biểu trong thời gian đầu là Phan Bội Châu Ông vừa là nhà cách mệnh yêu nước cùng lúc là 1 nhà văn hóa mập. Ông để lại nhiều trứ tác trên nhiều lĩnh vực trong đấy thi ca chiếm 1 nội dung quan trọng. Nổi trội trong thơ của Phan Bội Châu là bài “Lưu biệt lúc xuất dương”. Bài thơ đã lưu lại tình cảm, xúc cảm của tác giả khi từ giã trước lúc sang Nhật cùng lúc trình bày ý thức, ý chí cố gắng cứu nước của người chiến sĩ cách mệnh.“Lưu biệt lúc xuất dương” được Phan Bội Châu sáng tác lúc khát vọng cứu nước đang tiến hành 1 cách thuận tiện, hội Duy Tân vừa mới được thành lập lúc đấy ông chủ trương đưa 1 số thanh niên Việt Nam có ý chí, ý thức ham học hỏi sang Nhật học thực tập tân tiến, khoa học của họ để về giúp nước giúp dân. Đây là 1 tư tưởng văn minh nhưng mà lịch sử lại ko tuyển lựa do còn phạm phải những sai trái, không những thế điều đấy đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm cho dân tộc.Bài thơ được viết bằng chữ Hán theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật với bố cục rõ ràng, mạch lạc theo cấu trúc đề-thực-luận-kết trình bày được cái “chí” của thi sĩ. Hai câu thơ đầu là quan niệm mới mẻ về chí làm trai và tư thế, tâm thế, tầm vóc của con người trong vũ trụ. “Sinh vi nam tử yếu hi kìKhẳng hẹn càn khôn tự di chuyển”Chí làm trai của đấng đại trượng phu phải có khát vọng, hoài bão mập lao, phải làm được việc hiếm việc lạ ở trên đời. Tư tưởng này đã được kế thừa của các tiền nhân như Phạm Ngũ Lão trong bài thơ “Thuật hoài” có viết: “Nam nhi vị liễu công danh trái/ Tu thính trần gian thuyết Vũ hầu”. Chính vì cái lẽ đó nhưng mà ko chịu để cho trời đất tự chuyển dời trình bày tầm vóc mập lao của con người trong vũ trụ rộng lớn như tư thế “hoành sóc” (cầm ngang ngọn giáo) hiên ngang của người nam tử. Gắn với bối cảnh của thời đại, thực tiễn của non sông khi bấy giờ chí làm trai theo Phan Bội Châu phải xoay chuyển được “càn khôn” chủ động lập lại thời thế ko chịu bằng lòng nỗi nhục mất nước, ko chịu làm bầy tớ.Giả dụ 2 câu thơ đầu là tuyên ngôn về chí làm trai với tư tưởng muốn bứt phá ra khỏi giới hạn nhỏ mọn của bản thân, mong muốn cứu nguy cho dân tộc cùng lúc khẳng định vị thế của mình trong trời đất thì 2 câu thực nói về tinh thần phận sự của tư nhân trước thời cục. “Ư bách niên trung tu hữu ngãKhởi thiên tải hậu cánh vô thùy”Trong câu 3 đối với câu 4 lấy cái hữu hạn của “bách niên” để đối với cái vô bờ của “thiên tải”, lấy cái phủ định để khẳng định ý chí cố gắng của tác giả cho thấy vai trò, sự chủ động của tư nhân trước bối cảnh lịch sử. Ở trong vòng trăm 5 (trong vòng thời kì của đời người) cần phải có phải có ta. Ta phải làm việc mập, đảm trách việc đời của thời đại mình thì trăm 5 sau mới có lứa tuổi khác. Nếu ko sau này “hát ko người nào?”đây là 1 câu nghi vấn, hỏi nhưng mà cũng là để tự mình giải đáp, tự mình trình bày mình. Điều đấy cho thấy ý thức tự nhiệm, tự mình của tác giả cùng lúc cũng khẳng định sự nối liền lứa tuổi người hùng của dân tộc “Tuy mạnh yếu từng khi không giống nhau/ Song anh hào thời nào cũng có”.Để minh chứng cho tuyến đường cứu nước của mình là đúng mực ở 2 câu luận tác giả nêu lên cảnh ngộ của non sông và chỉ ra những điều xưa cũ ko còn thích hợp với thời đại mới. “Giang sơn tử hĩ sinh đồ huếHiền thánh liêu nhiên tụng diệc si”“Non sông đã chết” dân tộc đã bị xâm chiếm, non sông đã mất chủ quyền sống cũng chỉ thêm điếm nhục. Câu này tác giả nhắc đến lẽ sống và cái chết để khẳng định lí tưởng sống có tức là phải lật lại “càn khôn”, lấy lại hồn nước, khiến cho dân tộc được độc lập tự do. “Hiền thánh”ở đây chỉ Nho học. Nó đã ko còn nữa, phải gác nó lại theo học cái học thực tiễn để cải cách non sông. Có người nói Phan Bội Châu phủ nhận vai trò của Nho giáo, điều này là ko đúng bởi ông cũng xuất thân nơi “Cửa Khổng sân Trình” nhưng mà bối cảnh thời đại hiện thời Nho giáo trở thành lỗi thời, lạc hậu cần chỉnh sửa. Chữ “hoài” trong bản dịch thơ chưa trình bày được thực chất “si” (U mê, mê muội 1 điều gì đấy mất lí trí) trong nguyên tác. Hai câu thơ là lời nhắn nhủ của tác giả tới lứa tuổi trẻ phải đổi mới quan niệm, tư tưởng ko nên theo lối mòn, sáo rỗng ko có lợi cho sự nghiệp cứu nước.Hai cấu kết trình bày khát vọng hành động cứu nước, khắc họa tư thế hiên ngang, hào hùng của con đứa ở buổi lên đường: “Nguyện trục trường phong Đông hải khứThiên trùng bạch lãng nhất loạt phi”Ở câu thơ thứ nhất mang 2 nét nghĩa trừu tượng và chi tiết. Với nét nghĩa trừu tượng trình bày mong muốn vượt lên chính mình, vượt qua giới hạn bản thân làm nên việc lạ ở trong vòng trăm 5. Với nét nghĩa chi tiết để chỉ phong trào Đông Du, chỉ những người thanh niên yêu nước mong muốn học tập cái mới để giúp nước. Tuy nhiên bản dịch thơ trong sách giáo khoa từ “Cánh gió” chưa lột tả được khí sắc của “trường phong” là cơn gió mập, cơn gió dài nó là sự cố gắng, quyết liệt ra đi cứu nước của tác giả. Câu cuối “nhất loạt phi” là cùng bay lên ở đây là chỉ con sống hay chỉ khát vọng của tác giả hay chỉ cả 2 khát vọng của ta cộng với hàng nghìn con sóng cùng bay lên giữa biển khơi bao la. Theo em cách hiểu thứ 3 là có lí vì tác giả “xuất dương” mang trong mình hoài bão mập lao. Hai cấu kết với 2 hình ảnh kì vĩ “trường phong” và “thiên trùng bạch lãng”khiến cho chí khí, tư thế của người chiến sĩ vượt lên thực tại ám muội với đôi cánh của lí tưởng cách mệnh vươn ngang tầm vũ trụ được trình bày qua vị ngữ “nguyện trục”, “nhất loạt phi” khiến ta liên tưởng tới 2 câu thơ trong “Hành lộ nan” (Đi đường khó) của Lí Bạch: “Trường phong phá lãng hội hữu thì/ Trực quải vân phàm tế thượng hải” (Cưỡi gió vượt sóng ắt có khi/ Dòng thẳng buồm mây vút bể xanh).“Lưu biệt lúc xuất dương” trình bày được lí tưởng cứu nước cao cả, tâm huyết sôi sục với tư thế xinh xắn và khát vọng lên đường cháy bỏng của người chiến sĩ cách mệnh trong buổi đầu cứu nước. Về nghệ thuật bài thơ được tuân theo luật bằng, đúng niêm, đúng luật của thể thơ đã được quy ước, không những thế có nét cải cách đổi mới điều đấy được trình bày ở đại từ “Ngã” (ta). Ở trong thơ trung đại cái tôi tư nhân bị lu mờ, ít thấy tác giả hiện ra trực tiếp do người trung đại ko coi mình là trung tâm nhưng mà chỉ là 1 bộ phận trong chỉnh thể mập.Nhưng ở đây tác giả đã tự tin trình bày khả năng, chí hướng, khát vọng, cố gắng của con người trong thời đại mới. Sử dụng tiếng nói cường điệu với hình ảnh kì vĩ, lãng mạn trình bày được cái chí của mình.Vần thơ đã khép lại xưa nay nay nhưng mà hồn thơ, khí sắc của bài thơ cộng với hình ảnh của 1 Phan Bội Châu cố gắng, hăm hở, chủ động ra đi tìm đường cứu nước đã để lại tiếng vang, tác động sâu rộng trong lịch sử. Phan Bội Châu chẳng những về sự nghiệp di chuyển giải phóng dân tộc là 1 đối tượng điển hình cho quá trình chống Pháp của dân chúng Việt Nam đầu thế kỉ XX nhưng mà còn là thi sĩ, nhà văn với những đóng góp có trị giá cho nền văn chương sơn hà.Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 7Phan Bội Châu là 1 nhà văn hóa mập, 1 nhà chính trị, “1 đối tượng lớn lao”, có nhiều hoạt động văn minh đầu thế kỷ XX, ông được biết tới với vai trò là vị lãnh tụ điển hình nhất trong các phong trào chiến đấu giải phóng dân tộc đầu thế kỷ trước. Đặc thù nổi trội với tư tưởng giải phóng dân tộc theo tuyến đường của các nước tư bản chủ nghĩa, mặc dầu sau đấy thất bại nhưng mà cũng đã mở ra 1 cách nhìn mới về việc làm cách mệnh cho lứa tuổi đi sau trong đấy có Hồ Chí Minh. Nhìn chung ở đời cách mệnh, cũng như giai đoạn hoạt động cách mệnh ở Phan Bội Châu có sự liên kết lạ mắt và vang dội giữa 2 bình diện chính trị và văn hóa, điều đấy gần giống như Nguyễn Trãi hơn 400 5 về trước và Hồ Chí Minh của vài 5 sau đấy. Ngoài sự nghiệp chính trị nổi trội, thì Phan bội Châu cũng có 1 sự nghiệp văn học khá khổng lồ, ông có thể được xem là người đã mở đường cho nền văn chương cách mệnh Việt Nam với chất chính trị và trữ tình liên kết chặt chẽ ăn rơ trong nhiều tác phẩm. Lưu biệt lúc xuất dương chính là 1 tác phẩm mang đầy đủ cá tính sáng tác đó của Phan Bội Châu, cộng với tình cảnh có mặt trên thị trường đặc trưng gắn liền với sự chuyển biến trong tư tưởng cách mệnh của Phan Bội Châu.Sở dĩ nói Lưu biệt lúc xuất dương là bài thơ gắn liền với sự chuyển biến trong tư tưởng cách mệnh của Phan Bội Châu, bởi bài thơ được sáng tác vào 5 1905, trước ngày ông lên tàu cùng 1 số thanh niên ưu tú khác sang Nhật tìm đường cứu nước. Bài thơ là sự khích lệ, cổ vũ cổ vũ ý thức đầy hào khí dành cho những con người mang tư tưởng, tráng chí tốt đẹp ra đi vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, dẫu biết có nhiều gian truân trắc trở. Cũng lại là 1 tác phẩm gợi mở, hướng những con đứa ở lại, hướng dân chúng ta về 1 niềm tin rằng nay mai non sông sẽ tốt đẹp hơn, tươi sáng hơn, biểu thị nhưng mà ý chí, cố gắng, tư tưởng văn minh của 1 nhà nho yêu nước, 1 vị lãnh tụ hết dạ vì dân tộc.(adsbygoogle=window.adsbygoogle||[]).push({})Như Nguyễn Ái Quốc đã viết trong tác phẩm chính luận Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu của những lời tán tụng dành cho cụ Phan đầy thâm thúy và trân trọng rằng: “1 bậc người hùng, 1 vị thiên sứ được 2 mươi triệu đồng bào trong khoảng bầy tớ tôn kính”. Điều đấy đủ để thấy rằng ở Phan Bội Châu là tụ hội những vẻ đẹp quý giá của 1 tư cách mập, 1 tư tưởng mập hòa quyện giữa ý thức của 1 nhà nho và 1 chí sĩ cách mệnh theo thiên hướng tư bản (thậm chí còn có tí đỉnh thiên hướng chủ nghĩa xã hội). Trong Lưu biệt lúc xuất dương, vẻ đẹp tư cách, tư tưởng của Phan Bội Châu biểu thị từ 2 câu thơ đầu, nhưng mà có thể đặt cho nó cái tên là chí làm trai trong thời đại mới. “Làm trai phải lạ ở trên đờiHá để càn khôn tự chuyển dời”Cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX trong lịch sử sơn hà là 1 quá trình đầy bất định dữ dội, tháng 1/8/1958, Pháp nổ phát súng trước hết chính thức xâm lăng nước ta lần thứ nhất, khi mà đấy triều đình nhà Nguyễn hèn yếu, cơ chế phong kiến thối nát, có nguy cơ sụp đổ, ko đủ sức để đứng lên chỉ huy dân chúng chống giặc ngoại xâm như các lứa tuổi ông cha đi trước. Các nhà nho yêu nước, thương dân nhưng mà bất lực trước thời cục, thất vọng nên tìm cách thoái ẩn, lẩn tránh cuộc đời. Chỉ riêng Phan Bội Châu, là 1 trong số ít các nhà nho có nhiều hoạt động sôi nổi trong các phong trào nổi dậy chống ngoại xâm. Bởi cụ Phan có 1 tư cách văn hóa mập, người tiếp thu các thiên hướng chính trị 1 cách nhiều chủng loại, nhiều chiều, là người trực tiếp tham dự các phong trào Cần Vương và 1 số phong trào khởi nghĩa truyền thống, Phan Bội Châu tuy là 1 nhà nho chính thống, nhưng mà lại sớm nhìn thấy những yếu điểm và sự lạc hậu của các phong trào này. Phan Bội Châu nhận thấy thiết yếu 1 sự canh tân mới, 1 tuyến đường mới cho cách mệnh Việt Nam, người coi xét cơ chế quân chủ lập hiến, rồi rốt cuộc quyết định giải phóng dân tộc theo tuyến đường nhưng mà các nước tư bản chủ nghĩa đã làm và rất thành công điển hình đấy là Nhật Bản. Từ đấy phong trào Đông Du có mặt trên thị trường, với 1 kì vọng cải biến được tình hình hỗn loạn như rắn mất đầu của các phong trào khởi nghĩa lẻ tẻ trong nước. Phan Bội Châu có thể xem là 1 vị người hùng biết thời biết thế, với ông trong 1 bối cảnh mới thì tư cách của nhà nho vẫn phải giữ, nhưng mà phải cải biến làm sao cho ko bị lỗi thời, nhưng mà phải đồng nhất, đuổi kịp với thời cục. Trong đấy chí đại trượng phu là điều cốt tử của 1 nhà nho yêu nước. Phan Bội Châu quan niệm “Làm trai phải lạ ở trên đời”, chữ “lạ” ở đây nghĩa là thân đại trượng phu chí ở 4 phương, phải tạo cho mình sự dị biệt, nổi trội hẳn lên ở các bình diện sự nghiệp, tư tưởng, mang trong mình những khao khát, hoài bão cao đẹp và cố gắng hết mình tiến hành chúng. Đã là nam nhân thì ko cam chịu 1 cuộc sống phổ biến, an ổn, quẩn quanh bên cái ao, nắm thóc, con gà, vừa lòng với cuộc sống điền viên nữ nhi thường tình nhưng mà phải cố gắng gây dựng sự nghiệp mập, công danh mập. Nếu như thuở trước người trai mài miệt đèn sách, quyết thi cử lấy công danh làm rạng rỡ tổ tiên hoặc là tòng quân chinh chiến sa trường, bảo vệ biên thuỳ, để trả mối nợ nước. Thì nay trong thời đại đầy bất định, người đại trượng phu lại thiết yếu ý chí, chỉnh sửa tư tưởng của bản thân để trả món nợ công danh cho non sông, chứ không hề bất lực, lẩn tránh như nhiều nhà nho đương thời, vì sự câu chấp, thủ cựu lỗi thời ôm bo bo quan niệm Nho học đã lạc hậu để khóc than, xót thương. Quan niệm chí làm trai đó của Phan Bội Châu lại càng được biểu thị rõ trong câu thơ tiếp theo “Há để càn khôn tự chuyển dời”. Câu thơ đó đã biểu thị sự mạnh bạo, ý chí quả quyết, thử thách cả vũ trụ, trình bày tầm vóc bự mập của thi sĩ trước cán cân tạo hóa, Phan Bội Châu khẳng định vận mệnh của bản thân phải do chính bản thân mình nắm giữ, cùng lúc ý thơ còn chỉ ra tráng chí, lý tưởng chỉnh sửa “càn khôn” của tác giả. Nhưng thực tiễn “càn khôn” ở đây chung quy vẫn là chỉ tới sự bất định của thời cục, giặc Pháp xâm lăng và cơ chế phong kiến đổ nát, khiến non sông lầm than, nhiễu loạn. Phan Bội Châu ko can tâm, ko đành lòng trông thấy cảnh đau thương đó, người phải làm gì đấy cho Đất nước, cho dân tộc chứ không hề là đứng yên bất lực hay rơi lệ xót thương. “Trong khoảng trăm 5 cần có tớSau này muôn đời há ko người nào”Tới 2 câu thơ tiếp theo chính là tinh thần của tác giả về vai trò của bản thân lúc đứng trước thời cục, trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng non sông. “Khoảng trăm 5” là 1 cụm từ rất hay mang nhiều lớp nghĩa không giống nhau, trước là để ám chỉ về khoảng thời kì đầy bất định của non sông quá trình cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, lúc giặc Pháp xâm lăng, triều đình bất lực, cộng với sự nổ ra lẻ tẻ và sự thất bại của các phong trào khởi nghĩa truyền thống. Ấy là khoảng thời kì khủng hoảng nhất trong lịch sử dân tộc diễn ra từ lúc non sông giành được quyền độc lập tự chủ từ tay giặc phương Bắc 5 938. Bản thân Phan Bội Châu sinh ra đúng khi non sông đầy đau thương, thế nên với nhân cách là 1 bậc nam nhi, ông tự tinh thần được phận sự của mình dành cho non sông. Tạo hóa đã đặt con người ta vào nghịch cảnh, cuộc đời vốn chỉ có trăm 5 thì cần sống sao cho ra phết “đại trượng phu” để ko uổng công sắp xếp của tạo hóa. Ý của Phan Bội Châu chính là tương tự. Và cụ Phan cũng ko chỉ nói riêng hay đặt ra hy vọng, lý tưởng cứu quốc, kiến lập công danh cho chính bản thân mình, nhưng mà với ông “khoảng trăm 5” này nó vừa là thời cơ cũng vừa là thử thách cho tất cả những đấng đại trượng phu trong người đời. Ông có 1 niềm kì vọng rất mập vào các lứa tuổi tương lai, câu hỏi ngỏ đó chính là lời cổ vũ, cổ vũ thâm thúy tới nhiều lứa tuổi thanh niên trong nước, khuyến khích họ tự tạo lập 1 lý tưởng cao đẹp, mạnh bạo xông pha để trả mối nợ công danh cho non nước, cho dân tộc. Phan Bội Châu đã bước những bước đi trước hết đầy gian nan, nhưng mà ngập tràn tráng chí cố gắng và kì vọng về 1 ngày mai khởi sắc, vực dậy non sông, nhưng mà sau trăm 5 của ông, người nào sẽ là người tiếp diễn tuyến đường đó, Phan Bội Châu cần những người cộng sự, những người nối tiếp, để biến lý tưởng cách mệnh đó thành sự thực. “Non sông đã mất sống thêm nhụcHiền thánh còn đâu học cũng hoài”Tới 2 câu thơ luận, người ta mới lại càng thấy được tư cách văn hóa cao đẹp của Phan Bội Châu, chứng minh cho đánh giá rằng cụ Phan là 1 nhà nho văn minh, 1 nhà văn hóa có tiếp cận đa chiều, đa diện, sự cải cách và bắt kịp xu hướng của thời đại đầu thế kỷ XX. Như đã nói qua, các phong trào yêu nước truyền thống thất bại thảm hại nhưng mà đặc trưng là phong trào Cần Vương khiến các nhà nho yêu nước nhụt chí và tuyệt vọng, thì ngược lại Phan Bội Châu lại bước ra từ chính đống đổ nát đó, rút kinh nghiệm tiếp nhận nền văn hóa tư bản và biến thành người đi đầu cứu nước theo tuyến đường tư bản chủ nghĩa. Ấy là 1 bứt phá mập. Cụ nhận thức rất rõ hiện trạng của non sông “quốc gia đã chết” đấy là cái chết của 1 cơ chế, 1 triều đại phong kiến vốn dĩ đã suy sụp từ hàng trăm 5 nay, trong khi cả vua lẫn quan người nào nấy đều hèn hạ, sợ sệt chỉ ham vinh hoa phú quý nhưng mà bằng lòng để đối phương giày xéo non sông. 1 non sông ko có chủ quyền, ko có tự do, và 1 bộ máy bù nhìn thì chẳng hề đã “chết” hay sao. Và với 1 nhà nho yêu nước, 1 con người thẳng thắn sự khom mình đó của triều đình, sự đau đớn của dân tộc, sự ngang tàn của bọn thực dân quả thật là 1 nỗi điếm nhục khôn xiết. “Hiền thánh còn đâu học cũng hoài”, chính là nhận thức của Phan Bội Châu về sự lạc hậu và lỗi thời của nền Nho học. Bằng tư duy khoáng đạt, sự lỗi lạc của mình, ông nhìn thấy trong giờ khắc này Tam tự kinh, Luận ngữ hay các triết lý Nho học chẳng thể đấu lại với súng đạn của đối phương, chẳng thể vực dậy non sông bằng lối tư duy cứng nhắc, thiếu linh động đó nữa. Với nhân cách là 1 nhà nho chính thống, chịu tác động thâm thúy của Nho giáo, đấy là 1 nhận thức hết sức phũ phàng và đớn đau. Nhưng ko chìm đắm trong bất lực, thất vọng như nhiều nhà nho đương thời, Phan Bội Châu đã chuẩn bị từ bỏ những gì mình gắn bó bao lăm 5 trời để tiến tới với 1 tư tưởng mới, đặt những bước đi trước hết trên tuyến đường cứu nước theo thiên hướng tư bản. Thậm chí về sau này, Phan Bội Châu sau lúc bị giam lỏng ở Huế, sau thất bại với phong trào Đông Du, cụ lại cũng nhận thức và có những nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội qua tư tưởng Mác Lê-nin. “Muốn vượt bể Đông theo cánh gióMuôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi”Sau những câu thơ mang đậm thuộc tính chính trị, lý tưởng cao đẹp thì tới 2 câu thơ cuối chất trữ tình lãng mạn cách mệnh trong thơ của tác giả được trình bày khá rõ. “Muốn vượt bể Đông theo cánh gió” chính là trình bày khát vọng lý tưởng của tác giả lúc tới 1 vùng đất mới với kì vọng học hỏi được những tri thức hữu ích mang về phụng sự cho non sông, giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ, lầm than. Ở đấy tầm vóc, tráng chí của người người hùng được trình bày 1 cách bay bổng và khoáng đạt, biểu thị sự tự do, thú vui sướng, hoài bão bự mập nhưng mà Phan Bội Châu ấp ôm lúc lên đường sang Nhật. Cảnh tượng “Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi”, đem lại cho người đọc quang cảnh kỳ vĩ của tự nhiên trong ngày người chí sĩ ra đi, trình bày tầm vóc mập lao, tâm hồn cao đẹp, tự hào, hùng tráng của người ra đi nổi trội hẳn lên trên cái nền sóng nước, mây trời.Lưu biệt lúc xuất dương là 1 bài thơ hay và rực rỡ của Phan Bội Châu trình bày rõ thiên hướng trữ tình chính trị trong thi ca của 1 nhà nho đương đại, người mở đường cho cách mệnh Việt Nam theo thiên hướng mới, dù ko thành công, nhưng mà nó đã biến thành tiền đề, bài học kinh nghiệm thâm thúy cho lớp người đi sau, điển hình là Hồ Chí Minh. Tác phẩm đã biểu thị tư cách cũng như lý tưởng cao đẹp của Phan Bội Châu trong thời đoạn non sông có nhiều bất định, cùng lúc cũng là lời cổ vũ thâm thúy, sự cổ vũ đối với nhiều phân khúc thanh niên Việt Nam đứng dậy chiến đấu và hành động vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, đánh đuổi ngoại xâm.Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 8Phan Bội Châu (1867-1940), quê tại Làng Đan Nhiễm, xã Nam Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, ngay từ bé ông đã trình bày là mình là 1 người tài ba xuất chúng, lại sớm có lòng yêu nước và tinh thần về việc giải phóng dân tộc. Phan Bội Châu cũng là 1 người mang quan niệm nhập thế hăng hái hết sức thâm thúy, nặng lòng với nghiệp công danh cùng món nợ của phận đại trượng phu.Ông tham dự hăng hái vào nhiều phong trào chống Pháp và sau nhiều lần thất bại rốt cuộc ông đã nhận thức được sự sai trái, yếu kém trong cá tính tổ chức của các phong trào yêu nước thời bấy giờ, từ đấy đề ra chủ trương cứu nước theo tuyến đường tư sản. Ông nấu nung ý định cho các thanh niên ưu tú của sơn hà sang các nước như Nhật Bản, Trung Quốc để học hỏi rồi trở về hỗ trợ non sông, còn gọi là phong trào Đông Du, với tên gọi tổ chức là Duy Tân hội.Sự văn minh trong tư tưởng cứu quốc của Phan Bội Châu nghe đâu đã mở ra 1 tuyến đường sáng cho cách mệnh Việt Nam thời đoạn đầu, vào những 5 cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, dẫu rằng kết quả ko như mong chờ. Kế bên vai trò là 1 nhà hoạt động cách mệnh hoàn hảo, có nhiều đóng góp bự mập trong công cuộc giải phóng non sông thì Phan Bội Châu còn được biết tới với nhân cách là 1 thi sĩ, nhà văn mập trong nửa đầu thế kỷ 20, với số lượng tác phẩm mập, được xem là người bắt đầu cho nền văn chương cách mệnh Việt Nam, nhưng mà sau Tố Hữu chính là người đưa nó bước đến đỉnh cao.Lưu biệt lúc xuất dương là 1 bài thơ điển hình cho cá tính sáng tác của Phan Bội Châu, nó ko chỉ thuần tuý là 1 bài thơ trình bày lý tưởng cách mệnh của chí sĩ yêu nước, nhưng mà còn ghi lại mốc quan trọng bắt đầu công cuộc tìm đường cứu nước theo chủ nghĩa tư bản của thi sĩ.Lưu biệt lúc xuất dương được viết vào 5 1905, trước lúc Phan Bội Châu cùng 1 số thanh niên ưu tú khác lên tàu vượt biển sang Nhật Bản học tập. Tác phẩm có ý nghĩa cổ vũ, khích lệ ý thức cho người ra đi, cùng lúc cũng có chức năng củng cố ý thức, niềm tin, hướng đứa ở lại về 1 ngày mai tốt đẹp hơn, sáng lạn hơn của non sông. Thể hiện được rõ chí khí làm trai của 1 nhà nho, với ý thức yêu nước thâm thúy, cố gắng trả món nợ công danh cho đời lúc Đất nước lâm nguy, lịch sử có nhiều bất định.Trong 2 câu thơ đầu tác giả đã trình bày rất rõ ý kiến của mình về chí làm đại trượng phu trong thời đại mới, 1 thời đại đầy bất định, buộc con người ta phải có những chuyển đổi về ý chí để kiến lập 1 tuyến đường riêng cho bản thân và cho dân tộc, non sông nhưng mà vẫn giữ được khí tiết của 1 nhà nho chân chính, trong vai trò 1 nhà cách mệnh sôi nổi.(adsbygoogle=window.adsbygoogle||[]).push({}) “Làm trai phải lạ ở trên đờiHá để càn khôn tự chuyển dời”Phan Bội Châu quan niệm rằng thân đại trượng phu “vai 5 tấc rộng, thân mười tấc cao” sống ở trên đời phải tạo ra được chữ “lạ” cho riêng mình, nghĩa là ko cam chịu cuộc sống phổ biến mờ nhạt, quẩn quanh bên chốn “ao tù nước đọng”, nhưng mà phải tự khiến cho mình có điểm đặc sắc, nổi trội phê duyệt những lý tưởng cao đẹp, những mong ước và hy vọng mập, tráng chí ở 4 phương.Người đại trượng phu phải dám tự thử thách bản thân mình vượt ra khỏi cái vòng an toàn, vượt qua được trở ngại chi ly, được mất, vượt ra khỏi mọi giới hạn mực thước 1 cách mạnh bạo và can đảm, để đạt được những thành công mập, làm nên sự nghiệp hiển hách, phi thường, khác biệt nhưng mà hiếm kẻ làm được. Để “thà 1 phút huy hoàng rồi vụt tắt/Còn hơn le lói suốt trăm 5”, để cuộc đời đại trượng phu sống sao cho xứng với 2 chữ “đại trượng phu”, có góp sức cho cuộc đời, trả cho kỳ được món nợ công danh, chớ để hoài phí 1 cuộc đời mờ nhạt bất nghĩa.Cái quan niệm về chí làm trai trong thời đại mới của Phan Bội Châu tiếp diễn được làm rõ phê duyệt câu “Há để càn khôn tự chuyển dời”. Thể hiện ý chí mạnh bạo, thái độ hiên ngang, ý muốn thử thách, ngang tầm với vũ trụ, rằng thân trai tráng cần phải nắm chắc và tự quyết định lấy vận mệnh cuộc đời 1 cách quyết liệt và mạnh bạo. Chứ không hề là ý muốn cuộc sống nhàn hạ, bằng lòng sự sắp xếp của tạo hóa, biểu thị khẩu khí mạnh bạo, ngang tàn của bậc nam nhi, mang khí thế tự tin, táo tợn và hiên ngang hết sức.Ý thơ của Phan Bội Châu ko chỉ nằm ở việc trình bày tráng chí của bản thân nhưng mà kế bên đấy còn mang ý nghĩa cổ vũ các thanh niên trong thời đại mới, biết đứng lên tự lực, tự cường, đeo đuổi lý tưởng cao đẹp, phụng sự cho Đất nước, nâng tầm vóc của bản thân mình ngang tầm vũ trụ, tạo hóa, rũ bỏ cuộc đời bình thường, quẩn quanh ao vườn, ruộng cá, để kiến thân lập nghiệp.Trong 2 câu thơ tiếp “Trong khoảng trăm 5 cần có tớ/Sau này muôn đời há ko người nào” chính là nhận thức của tác giả về phận sự của người làm trai với non sông, dân tộc, là món nợ công danh cần phải đáp đền. Đặc thù là trong thời buổi lịch sử dân. tộc có nhiều chuyển đổi, giặc dữ rắp ranh xâm phạm chủ quyền thì thanh niên lại càng phải biết đứng ra phụng sự cho Đất nước.Tác giả đã vẽ ra khoảng thời kì “trăm 5”, trước là ẩn ý chỉ về 1 kiếp người như quan niệm của cha ông ta từ bao đời nay, 1 đời tức chỉ trăm 5. Thứ 2 nữa khoảng thời kì trăm 5 còn là để gợi nhắc về 1 thế kỷ bất định của dân tộc, sự thế đã biết bao lần thay đổi, sự suy vong của cơ chế phong kiến, sự xâm lăng của đế quốc phương Tây khiến dân chúng biết bao phen lầm than. “Trong khoảng trăm 5 cần có tớ” là ẩn ý của tác giả về tầm quan trọng của bản thân trong công cuộc phục hưng, bảo vệ non sông.Nhưng người làm trai, sức dài vai rộng trong giữa sự sắp xếp của tạo hóa, đã ban cho ta 1 khoảng thời kì đầy bất định, thì bản thân người chí sĩ phải làm sao cho xứng với sự hy vọng của tạo hóa, cũng như xứng đáng với cái danh đại trượng phu của mình. Giả dụ câu trước là khẳng định tầm quan trọng của đấng đại trượng phu trước thời cục, là sự nhận thức về lý tưởng cũng như vai trò của bản thân với non sông thì câu thơ “Sau này muôn đời há ko người nào?” lại là 1 câu hỏi ngỏ, trình bày sự hy vọng, cũng như sự cổ vũ của tác giả đối với tầng phân khúc lớp các lứa tuổi thanh niên và tương lai nữa.Phan Bội Châu đã dùng chính tráng chí, lý tưởng cao đẹp của mình làm tấm gương sáng, cũng như đặt những bước chân trước hết cho tuyến đường cách mệnh đương đại của dân tộc, của thanh niên Việt Nam. Thức tỉnh trong họ những nhận thức về ý thức cách mệnh, lòng yêu nước, tinh thần phận sự của người thanh niên, và sự tự tin chuẩn bị đương đầu với sóng gió của bậc nam nhi.Tới 2 câu thơ luận, Phan Bội Châu lại cho chúng ta thấy tầm nhận thức tiến bộ của 1 nhà nho yêu nước, 1 nhà cách mệnh kiểu mới trước tình hình dân tộc, trước sự suy thoái của cơ chế phong kiến và nền nho học đang dần mất đi vị thế vốn có của mình. “Non sông đã mất sống thêm nhụcHiền thánh còn đâu học cũng hoài”“Non sông đã chết” đấy là cái chết của chủ quyền dân tộc, chủ quyền cương vực và sự suy vong của cơ chế phong kiến, non sông lầm than thế nhưng mà bọn đầu sỏ cầm quyền, những con người đứng đầu 1 non sông lại sợ sệt, chỉ dám chui luồn, xu nịnh đám giặc Tây để níu kéo những tháng ngày gấm vóc lụa, là hữu danh vô thực, còn chớ thây số mệnh dân tộc và non sông. 1 non sông nhưng mà ko có chủ quyền, ko có tự do, triều đình phong kiến chỉ là 1 mớ bù nhìn, thối nát tận xương thì còn cách bên bờ bại vong là mấy bước chân nữa đâu.Thế nên tác giả nói “quốc gia đã chết” cũng chẳng có gì là ko đúng, đặc trưng 1 người với tráng chí, với ý thức yêu nước mạnh bạo như Phan Bội Châu thì đứng trước cảnh xa đó thì quả thực là điếm nhục khôn xiết. Tới câu thơ sau “Hiền thánh còn đâu học cũng hoài”, người ta lại càng thán phục cái tư cách và nhận thức của Phan Bội Châu.Bởi vốn dĩ Phan Bội Châu là 1 nhà nho chịu tác động rất mạnh bạo từ nền giáo dục phong kiến từ thuở thiếu thời, thế nhưng mà ông ko như 1 số những nhà nho câu chấp ôm bo bo giấc mộng hão huyền về việc phục hưng những thứ vốn đã cũ kỹ, lỗi thời nhưng mà ngược lại ông lại chính là 1 trong những người trước hết nhìn thẳng vào vấn đề, phanh phui sự tụt hậu của nho học, vạch rõ nguyên cớ khiến non sông lâm vào hiện trạng hèn yếu.Không phủ nhận rằng Nho học quả thật là 1 kho tàng bao la, đem lại cho con người sự giáo dục tốt đẹp, thế nhưng mà nhìn vào bối cảnh hiện nay nó chỉ mang lại những sự ảo vọng ko có thực, ko có lợi trong việc diệt giặc thù, giành lại chủ quyền dân tộc. Việc phủ nhận nền Nho học vốn đã gắn bó với mình bao lăm lâu đó quả thật là nỗi chua xót hết sức mập của tác giả, nhưng mà với tư cách cũng như lý tưởng cao đẹp và lòng cố gắng của 1 chí sĩ yêu nước, thì ko nỗi đau nào vượt qua được nỗi đau mất nước.Nhưng với nhân cách người làm trai, ông lại càng phải trình bày vai trò phục hưng Đất nước bằng tuyến đường đương đại chứ không hề là ôm mãi giấc mộng huy hoàng đã qua. Từ đấy ta thấy được tâm hồn khoáng đạt, mạnh bạo và tự do của 1 chí sĩ yêu nước chân chính, chuẩn bị hy sinh tất cả, nén nhịn nỗi đau tư nhân vì ích lợi của dân tộc, của non sông, để hoàn trả món nợ công danh.Cuối cùng ở 2 câu thơ kết “Muốn vượt bể Đông theo cánh gió/Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi” chính là hình ảnh người chí sĩ yêu nước lên đường vượt biển xa quê hương để tìm đến chân mây mới, học hỏi những tri thức mới để trở lại phụng sự cho Đất nước, dân tộc với phong độ hiên ngang và tự tin hết sức.Những hình ảnh “bể Đông”, “muôn trùng sóng bạc” đã gợi ra 1 bối cảnh ko gian bao la, hào phóng, trình bày tâm hồn yêu đời, cùng những khát vọng, lý tưởng cao mập muốn vươn ra biển mập của người chí sĩ. Tầm vóc con người trở thành kì vĩ, mập lao nổi trội hẳn trên cái nền của tự nhiên bởi sự tự hào, tráng chí hùng mạnh bên trong tâm hồn đối tượng trữ tình.Lưu biệt lúc xuất dương là 1 bài thơ hay, có nội dung và ý nghĩa mập, ko chỉ biểu thị những khát vọng, lý tưởng cao đẹp của 1 nhà hoạt động cách mệnh thời đại mới, nhưng mà còn là lời cổ vũ cổ vũ, khơi dậy ý thức yêu nước, lòng tự trọng dân tộc, cũng như thức tỉnh sự tự tin, lý tưởng và khát vọng cao đẹp của thanh niên Việt Nam trong bối cảnh non sông có nhiều bất định.Có thể nói rằng Lưu biệt lúc xuất dương là 1 trong những bài thơ mang thiên hướng trữ tình cách mệnh trước hết, khơi nguồn cho nền văn chương cách mệnh của dân tộc đạt tới đỉnh cao về sau này.Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 9“Thi dĩ ngôn chí” – thơ để nói chí, tỏ lòng. Cho nên tầm vóc của loại thơ này cuối cùng, dựa dẫm vào tầm vóc của chí. Nhưng chí khí không hề là những bộc phát nhất thời, càng chẳng thể là những chí hướng vay mượn. Chí cần phải được bảo đảm bằng nghiệp.Có thể có những sự nghiệp ko thành, nhưng mà sự dang dở đó cũng chứng tỏ về 1 chí mập đã lao vào, không hề thứ chí suông. Chính nó là sự bảo đảm cho thơ. Vì vậy. thơ sẽ chỉ còn là những lời lẽ phô trương sáo rỗng, là sự thổi phồng đao bự búa mập rẻ tiền, giả dụ ko có 1 chí mập, hơn thế giả dụ chí mập đó ko gắn với 1 cốt cách mập, 1 cuộc đời mập.Tiếng thơ biểu thị trực tiếp các chí mập lâu nay thường gắn với những bậc anh hào, những đấng lang quân. Thơ của họ là lời tuyên ngôn của cuộc đời họ. Trước lúc họ tạc con người mình vào trong thơ, thì họ đã tạc con người mình vào núi sông. Người đời thường ví họ như chim hồng, chim hộc và đối lập với những chim sẻ, chim ri. Và trong thơ của mình, họ xuất hiện đúng như những cánh đại bàng tung hoành trong bát ngát trời biển.Tư thế của họ là tư thế kì vĩ, tư thế vũ trụ, chẳng “Hoành sóc sơn hà cáp kỉ thu’ (Cấp ngang ngọn giáo bảo vệ sơn hà đã mấy. thu – Phạm Ngũ Lão), thì cũng “Kỉ độ long tuyền đới nguyệt ma” (Bao phen mang gươm báu mài dưới trăng – Đặng Dung), chảng “Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư” (Kêu bự 1 tiếng làm lạnh cả hư vô – Không Lộ thiền sư) thì cũng “Bay thẳng cánh muôn trùng Tiêu Hán, Phá vòng vây bạn với Kim ô” (Nguyễn Hữu cầu)… như thế dã chứa đựng trong đấy hào khí của cả nòi giống.Nằm trong mạch ngôn chí trực tiếp đó, Xuất dương lưu biệt của Phan Bội Châu là hùng tâm tráng chí của 1 trong những người con ưu tú nhất của giống nòi giống Việt Nam. Thực ra cái quan niệm làm trai ở trong bài thơ này ko phú của riêng Phan Bội Châu. Nó là quan niệm chung về chí làm trai của nhà Nho thuở trước. Và ít ra ta cũng thấy nó từng vang lên rất mãnh liệt trong thơ văn Nguyễn Công Trứ.Song, điều đáng nói chính là ở chỗ, không hề Phan Bội Châu đang ném ra cuộc đời 1 quan niệm lí thuyết như 1 người có ý đồ lập thuyết, nhưng mà ông là người đã sống cái quan niệm đó 1 cách đủ đây trước lúc viết thành thơ. Có nhẽ vì vậy nhưng mà Xuất dương lưu biệt ko chỉ chứa đựng 1 lẽ sống nhưng mà trước tiên là chứa đựng chân dung 1 con người – 1 con người lỗi lạc, kiệt xuất. Hai câu đề: Làm trai phải lạ ở trên đời,Há để càn khôn tự chuyển dời.Tôi ko nghĩ chữ “lạ” trong bản dịch này đã trình bày được hết cái ý thức của chữ “kì”. Bởi chữ “kì” muốn nhắc đến cái điều: làm trai phải làm được những điều kì dị, kiệt xuất, phi thường. 1 mình chữ “lạ” ko tải hết ý của Phan tiên sinh. Tôi cũng ko nghĩ rằng người dịch dùng 3 chữ “ở trên đời” là đã diễn được thực ý của nguyên tác.“Đời” là 1 ko gian tưởng là rộng nhưng mà hóa ra lại hẹp, bởi nó có xu thế co vào cái khuôn khổ của toàn cầu người thôi. Trong nguyên văn, Phan Bội Châu ko dùng những chữ đó. Chỉ tới câu thứ 2 ta mới thấy yêu tố ko gian hiện ra. Và tức khắc bậc tu mi nam tử theo quan niệm của Phan Sào Nam đã xuất hiện trong tương quan kì vĩ nhất: ko gian vũ trụ.Đấng đại trượng phu sinh ra ở trong vũ trụ này là đương đầu với càn khôn (trời đất), tức là với tất cá những gì mập lao nhất trong vũ trụ này, chứ ko riêng gì toàn cầu người. Vậy là ngay từ 2 câu đề, hình ánh nói chung về 1 bậc anh hào đã hiện lên đầy ấn tượng: Ấy không hề là kẻ sống tiêu cực phó mặc đường đời mình cho trời đất, và cũng ko phó mặc cõi đời này cho sự xoay vần của trời đất.Đấng nam tử phải là người chủ động thay đổi cả càn khôn. Cái chí ngang dọc trời đất, chọc trời khuấy nước, cải tạo vũ trụ đấy mới là điều xứng với 1 đời làm đại trượng phu. Quan niệm con người của Phan Bội Châu ở đây là quan niệm con người vũ trụ rất không xa lạ của văn học Nho giáo trung đại. Nếu 2 câu đề gợi ra hình ảnh nam tử trong ko gian kì vĩ, thì 2 câu thực đã tăng trưởng hình ảnh đó trong 1 chiều kích khác: thời kì. Thời gian ở đây cũng là thời kì thuộc tầm cỡ vĩ mô: Trong khoảng trăm 5 cần có tớ,Sau này muôn đời há ko người nào?Ở câu đề tuy khẩu khí tư nhân đã rõ, nhưng mà quan niệm vẫn là quan niệm chung. Tới đây thì con người tư nhân Phan Bội Châu đã hiện ra ngay trên bề mặt câu chữ. Ông đã tinh thần về vai trò lịch sử của mình thật hùng dũng đầy tự trọng, tự tin. Mình phải biến thành 1 đối tượng chẳng thể thiếu trong cái khoảng thời kì 1 trăm 5 nay. Nói 1 cách khác, ông tự lãnh nhận sứ mệnh của mình: 1 con người cần phải có của thế kỉ.Đối diện với càn khôn, đối diện với cả thế kỉ, tầm vóc của bậc nam tử này thật là tầm vóc vũ trụ. Không phải ông muốn chiếm lấy 1 chỗ đứng chỉ cần khoảng như 1 kẻ vĩ cuồng háo danh. Nhưng chính là làm nên cái việc trọng đại, kiệt xuất là xoay chuyển càn khôn để làm thay đổi gương mặt của thế kỉ. Chữ “tớ” là cách dịch thoát của chữ “ngã“ (tôi).Dù dịch là tôi, là ta, là “tớ” thì ngã vẫn cứ là cái tinh thần mãnh liệt về tư nhân mình trên cõi trần giới này. Hình ảnh tác giả xuất hiện trong bát ngát thời kì, lồng lộng ko gian như thế là 1 vẻ đẹp tư nhân thật hoa lệ nguy nga. Phcửa ải thấy rằng, ít có người nào đã tự họa mình trong 1 ko gian và thời kì hoành tráng tương tự! Dầu sao trong 4 câu đầu này mới nhắc đến điều phải “lạ”, nhưng mà chưa nói rõ “việc lạ” cần làm là gì! 4 câu tiếp theo sẽ dần dần làm sáng lên điều đấy. Hai câu luận là 1 sự nhìn nhận phi thường: Non sông đã sống chết thêm nhục,Hiền thánh còn đâu học cũng hoàiCâu trên khẳng định: Non sông đã chết! Khi chủ quyền đã về tay kẻ ngoại quốc, thì quốc gia đã chết. Sống nhưng mà ko có quyền làm chủ là sống nhục. 4 chữ “Giang sơn tử hĩ” chất đầy đớn đau và căm uất. Câu dưới tiếp diễn Hiền thánh đã vắng bóng thì có đọc sách cũng ngu thôi! Tất cả là những lời phủ định dứt khoát, quyết liệt rằng: Còn học đòi sách vở, còn sống ở trong nước thời buổi này là điều điếm nhục đối với 1 trang đại trượng phu.Bởi đấy là đã nhắm mắt nhắm mũi quay lưng cho “càn khôn tự chuyển đi”, là phó mặc mình cho đời xoay vần. Tất cả những gì thiêng liêng xứng đáng với 1 bậc nam tử coi như đã chết. Vì vậy nhưng mà thiết yếu hành động xứng đáng. Hành động xứng đáng, hành động kiệt xuất phi thường đó hiện thời chính là: Xuất dương. Những câu trên ta thấy cái tôi (ngã) xuất hiện trước “càn khôn”, trước “ Bách niên trung”, “Thiên tải hậu” những chiều kích vĩ của ko gian và thời kì, ở đây, nó tiếp diễn được tô đậm bằng: “Giang sơn” và “Thánh hiền”.Con người đó đương đầu với sơn hà non sông, đương đầu với toàn thể nền học thức. Cho nên, càng về sau chân dung của con người đó, cái tôi đó càng sắc nét với tất cả những gì mập lao nhất. Cái ko gian độc nhất có thể chứa đựng được con người đó là vũ trụ. Tới 2 cấu kết thì những nét bút kì vĩ rốt cuộc đã hoàn thiện hành động kiệt xuất của 1 cuộc đời kiệt xuất: Muốn vượt biển Đông theo cánh gió,Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.6 câu trên gợi ra những suy nghĩ, những tuyển lựa, những sẵn sàng trong tâm lí, trong tư tưởng của 1 con đại bàng. Ở 2 câu này, chúng ta thấy con đại bàng đó đang tung đôi cánh bát ngát của mình bay thẳng ra trùng dương, đương đầu với hết thảy những giông tố bão bùng. Câu thơ gợi ta nhớ tới tư thế của con chim mập trong thư Quận He: “Bay thẳng cánh muôn trùng Tiêu Hán, Phá vòng vây bạn với Kim ô”.Nhưng câu thơ của Phan Bội Châu ko còn là 1 hình ảnh ước lệ nữa. Bởi phong trào Đông du nhưng mà ông là người chủ trương, bởi việc xuất dương nhưng mà ông là người cử sự chính là những hành động phi thường của những bậc lang quân chuẩn bị ném đời mình vào muôn trùng sóng bạc ra khơi tìm đường làm sống lại “sơn hà đã chết”, tìm cách xoay chuyển càn khôn. Bài thơ kết bằng câu thơ đầy hùng tâm tráng chí nhưng mà câu thơ dịch chưa thể truyền tải hết được: Thiên trùng bạch lãng nhất loạt phi.Như vậy, làm trang đại trượng phu không hề là bằng mọi cách để lưu danh sử sách, khẳng định tư nhân. Nhưng tư nhân đó phải làm nên việc phi thường, đó là việc kinh bang, tế thế, cứu dân cứu nước. Khát vọng sống cao cả của Phan Bội Châu ở đây, 1 lần nữa, giúp ta hiểu được cái cốt cách lớn lao của con người kiệt xuất này.Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 10Phan Bội Châu (1867 – 1940) tên thật là Phan Văn San, hiệu là Sào Nam, người làng Đan Nhiệm, nay là xã Nam Hoà, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Ông sinh ra và mập lên trong cảnh nước mất nhà tan, tận mắt chứng kiến sự thất bại của phong trào Cần Vương chống Pháp. Chế độ phong kiến suy vong kéo theo sự sụp đổ của cả 1 hệ thống tư tưởng phong kiến già cỗi, lạc hậu.(adsbygoogle=window.adsbygoogle||[]).push({})Tình hình đấy đặt ra cho các chí sĩ yêu nước 1 câu hỏi mập: Phcửa ải cứu nước bằng tuyến đường nào? Trong ko khí âm u bao trùm khắp non sông thời đấy, những tia sáng hi vọng hé rạng qua nguồn sách Tân thư quảng bá tư tưởng cách mệnh dân chủ tư sản của phương Tây với nội dung khác hẳn với các sách thánh hiền thuở trước. Người ta có thể tìm thấy ở đấy những gợi ý thu hút về 1 tuyến đường cứu nước mới, những cảnh xa đầy hẹn hứa hẹn cho ngày mai. Vì vậy, các nhà Nho đương đại của thời đại như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đã đi đầu dấn bước, bất chấp gian nguy, gian khó.Phan Bội Châu là 1 trong những chí sĩ yêu nước trước hết mở ra tuyến đường cho sự nghiệp chiến đấu giải phóng dân tộc theo thiên hướng dân chủ tư sản. Mặc dầu sự nghiệp ko thành, nhưng mà ông mãi mãi là tấm gương sáng chói về lòng yêu nước khẩn thiết và ý chí chiến đấu kiên định, quật cường.Sinh thời, Phan Bội Châu ko coi văn học là mục tiêu của cuộc đời mình nhưng mà trong giai đoạn hoạt động cách mệnh, ông đã chủ động nắm lấy thứ vũ khí tinh khí sắc bén đó để tuyên truyền, cổ động, cổ vũ ý thức yêu nước của đồng bào ta. Năng khiếu văn học, bầu tâm huyết sục sôi cùng sự trải đời trong bước đường cách mệnh là cơ sở để Phan Bội Châu biến thành 1 nhà văn, thi sĩ mập với những tác phẩm hoàn hảo như: Việt Nam vong quốc sử (1905), Hải ngoại huyết thư (1906), Ngục trung thư (1914), Trùng Quang tâm sử (1913 -1917), Phan Bội Châu niên biểu (1929)…5 1904, ông cùng các đồng đội của mình lập ra Duy Tân hội. 5 1905, hội chủ trương phong trào Đông Du, đưa thanh niên ưu tú sang Nhật Bản học tập để sẵn sàng lực lượng cốt cán cho cách mệnh và tranh thủ sự hỗ trợ của các thần thế bên ngoài. Trước khi lên đường, Phan Bội Châu làm bài thơ Xuất dương lưu biệt để giã biệt bằng hữu, đồng đội. Phiên âm chữ Hán: Sinh vi nam tử yếu hi kì,Khẳng hẹn càn khôn tự di chuyển.Ư bách niên trung tu hữu ngã,Khởi thiên tải hậu cảnh vô thùy.Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế,Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si!Nguyện trục trường phong Đông hải khứ,Thiên trùng bạch lãng nhất loạt phi.Dịch thơ: Làm trai phải lạ ở trên đời,Há để càn khôn tự chuyển dời.Trong khoảng trăm 5 cần có tớ,Sau này muôn đời, há ko người nào?Non sông đã chết, sống thêm nhục,Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài!Muốn vượt bể Đông theo cánh gió,Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.Bằng giọng thơ nhiệt huyết có sức lay chuyển mạnh bạo, Lưu biệt lúc xuất dương đã khắc họa vẻ đẹp lãng mạn hào hùng của nhà chí sĩ cách mệnh Phan Bội Châu, với tư tưởng mới mẻ, táo tợn, bầu tâm huyết sôi trào và khát vọng cháy bỏng trong buổi ra đi tìm đường cứu nước. Bài thơ bắt đầu bằng việc khẳng định chí làm trai: Làm trai phải lạ ở trên đời,Há để càn khôn tự chuyển dời.Câu thơ chữ Hán: Sinh vi nam tử yếu hi kì. Hai từ hi kì có tức là hiếm, lạ, khác lạ cần được hiểu như những từ nói về thuộc tính mập lao, trọng đại, kì vĩ của công tác nhưng mà kẻ làm trai phải đảm trách. Đây cũng là lí tưởng nhân sinh của các nhà Nho thời phong kiến.Trước Phan Bội Châu, nhiều người đã nói đến tới chí làm trai trong thơ ca. Phạm Ngũ Lão đời Trần từng băn khoăn: Công danh nam tử còn vương nợ,/ Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu (Tỏ lòng). Trong bài Đi thi tự vịnh, Nguyễn Công Trứ khẳng định: Đã mang tai mang tiếng ở trong trời đất,/ Phcửa ải có danh gì với sông núi… và nhấn mạnh: Chí làm trai nam, bắc, tây, đông/ Cho phỉ sức tung hoành trong 4 bể (Chí khí người hùng).Chí làm trai của Phan Bội Châu thuyết phục lứa tuổi trẻ thời bấy giờ ở sự táo tợn, quyết liệt và cảm hứng lãng mạn nhiệt liệt bay bổng. Với ông, làm trai là phải làm được những điều lạ, tức những việc hiển hách phi thường. Câu thơ thứ nhất khẳng định điều đấy. Câu thơ thứ 2 mang ngữ điệu cảm thán bổ sung cho ý của câu thứ nhất: Kẻ làm trai phải can hệ vào việc xoay chuyển càn khôn, chuyển đổi thời thế chứ không hề chỉ giương mắt ngồi nhìn thời cục thay đổi, yên phận thủ thường, bằng lòng mình là kẻ đứng ngoài.Thực ra, đây là sự nối tiếp khát vọng của đối tượng trữ tình trong bài Chơi xuân: Giang sơn còn thêu dệt mặt đại trượng phu,/ Sinh thời thế phải xoay nên thời thế. Chân dung đối tượng trữ tình trong bài Lưu biệt lúc xuất dương hiện lên khá rõ qua 2 câu đề. Ấy là 1 con người mang tầm vóc vũ trụ, tự tinh thần rằng mình phải có phận sự đảm trách những trọng trách mập lao.Con người đó dám đương đầu với cả càn khôn, vũ trụ để tự khẳng định mình. Chí làm trai của Phan Bội Châu đã vượt hẳn lên trên cái mộng công danh lâu nay thường gắn liền với tam cương, ngũ thường của Nho giáo để vươn đến lí tưởng xã hội bao la và cao cả hơn nhiều.Cảm hứng và ý nghĩ đấy phần nào xuất hành từ lí tưởng trí quân, trạch dân của các nhà Nho thuở trước nhưng mà văn minh hơn vì mang thuộc tính cách mệnh. Theo quy luật, hồng quân xoay vần vốn là lẽ thường tình, nhưng mà Phan Bội Châu ấp ôm khát vọng chủ động xoay chuyển càn khôn, chứ ko để cho nó tự chuyển vần.Cũng có tức là ông ko chịu khuất phục trước số mệnh, trước tình cảnh. Lí tưởng văn minh đó đã tạo cho đối tượng trữ tình trong bài thơ 1 tầm vóc mập lao, 1 tư thế hiên ngang, ngạo nghễ thử thách với càn khôn. Hai câu thực trình bày tinh thần về phận sự tư nhân của thi sĩ, cũng là nhà cách mệnh đi đầu trước cuộc đời: Trong khoảng trăm 5 cần có tớ,Sau này muôn đời, há ko người nào?Câu thứ 3 ko chỉ dễ dãi công nhận sự có mặt của đối tượng trữ tình ở trên đời nhưng mà còn hàm chứa 1 tâm niệm: Sự hiện diện của ta không hề là 1 sự kiện tình cờ, vô bổ; thành ra, ta phải làm 1 việc gì đấy mập lao, bổ ích cho đời. Câu thứ tư có tức là nghìn 5 sau, chẳng lẽ, chẳng có người nối liền công tác của người đi trước. “Cái tôi công dân” của tác giả đã được đặt ra giữa giới hạn trăm 5 của đời người và nghìn 5 của lịch sử.Sự khẳng định cần có tớ không hề với mục tiêu hưởng lạc nhưng mà là để góp sức cho đáng mặt đại trượng phu và lưu danh hậu thế. Câu hỏi tu từ cũng là 1 cách khẳng định mãnh liệt hơn khao khát góp sức và nhận thức đúng mực của tác giả: Lịch sử là 1 dòng chảy liên tiếp, cần có sự góp mặt và đảm trách của nhiều lứa tuổi nối liền nhau. Trong 4 câu thơ đầu, những hình ảnh kì vĩ của tự nhiên như càn khôn, trăm 5, muôn đời đã trình bày cảm hứng lãng mạn bay bổng, chính là cỗi nguồn sức mạnh niềm tin của đối tượng trữ tình.Ở những 5 đầu thế kỉ XX, sau thất bại liên tục của các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp, 1 nỗi bi lụy, tuyệt vọng đè nặng lên tâm hồn những người Việt Nam yêu nước. Tâm lí yên phận thủ thường lan rộng. Trước tình hình đấy, bài thơ Lưu biệt lúc xuất dương có ý nghĩa như 1 hồi chuông thức tỉnh lòng yêu nước, cổ vũ mọi người đứng lên chống giặc ngoại xâm. Trong 2 câu luận, Phan Bội Châu đặt chí làm trai vào tình cảnh thực tiễn của lịch sử đương thời: Non sông đã chết, sống thêm nhục,Hiền thánh còn đâu học cũng hoài.Lẽ nhục – vinh nhưng mà tác giả đặt ra gắn liền với sự tồn vong của non sông và dân tộc: Non sông đã chết, sống thêm nhục. Ý nghĩa của nó tương đồng với ý kiến: Chết vinh còn hơn sống nhục trong thơ văn yêu nước Nguyễn Đình Chiểu cuối thế kỉ XIX.Câu thơ thứ 5 bộc bạch 1 thái độ dứt khoát, được trình bày bằng tiếng nói đậm khẩu khí người hùng, bằng sự đối lập giữa sống và chết. Ấy là khí tiết cương cường, quật cường của những con người ko cam chịu cuộc đời bầy tớ tủi hổ. Ý thơ mới mẻ mang thuộc tính cách mệnh. Ở câu thứ 6, Phan Bội Châu đã ngay thẳng bộc bạch quan điểm trước 1 thực tiễn đau xót là tác động của nền giáo dục Nho giáo đối với cảnh ngộ sơn hà khi bấy giờ.Sách vở thánh hiền chẳng giúp ích được gì trong buổi nước mất nhà tan. Cho nên nếu cứ bo bo đeo đuổi thì chỉ hoài công vô bổ nhưng mà thôi. Đương nhiên, Phan Bội Châu chưa hoàn toàn phủ nhận cả nền học thức Nho giáo, nhưng mà đưa ra 1 đánh giá như thế thì quả là táo tợn đối với 1 người từng là môn sinh của chốn cửa Khổng sân Trình.Dũng khí và nhận thức minh mẫn đấy trước tiên bắt nguồn từ lòng yêu nước khẩn thiết và khát vọng cháy bỏng muốn tìm ra tuyến đường đi mới để đưa sơn hà thoát khỏi cảnh bầy tớ lầm than. Phan Bội Châu cho rằng nhiệm vụ thiết thực trước mắt là cứu nước cứu dân, là Duy tân, nghĩa là học hỏi những tư tưởng cách mệnh mới mẻ và văn minh. Bài thơ ko thuần tuý là chỉ để bộc bạch ý chí nhưng mà đích thực là 1 cuộc lên đường của đối tượng trữ tình: Muốn vượt bể Đông theo cánh gió,Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.Các hình ảnh kì vĩ trong 2 cấu kết mang tầm vũ trụ: bể Đông, cánh gió, muôn trùng sóng bạc. Tất cả như hòa nhập làm 1 với con người trong tư thế bay lên. Trong nguyên tác, 2 câu 7 và 8 kết hợp với nhau để hoàn chỉnh 1 tứ thơ đẹp: Con người đuổi theo ngọn gió mập qua biển Đông, cả vũ trụ rộng lớn Muôn lớp sóng bạc cùng bay lên (Thiên trùng bạch lãng nhất loạt phi).Tất cả tạo thành 1 bức tranh hoành tráng nhưng mà con người là trung tâm được chắp cánh bởi khát vọng mập lao, bay bổng lên trên thực tại u tối hà khắc, lồng lộng giữa trời biển bát ngát. Bên dưới đôi cánh đại bàng đấy là muôn trùng sóng bạc dâng cao, bọt tung trắng xóa, nghe đâu muốn tiếp sức cho con người bay thẳng đến chân mây mong ước. Hình ảnh đậm chất sử thi này đã thắp sáng niềm tin và hi vọng cho 1 lứa tuổi mới trong thời đại mới.Thực tế thì cuộc ra đi của Phan Bội Châu là 1 cuộc ra đi kín đáo, đưa tiễn chỉ có vài 3 đồng đội thân thiện nhất. Dù phía trước chì mới le lói vài tia sáng của mong ước, nhưng mà người ra đi tìm đường cứu nước vẫn hăm hở và đầy tin cậy. Sức thuyết phục, quyến rũ của bài thơ chính là ở ngọn lửa đon đả đang bừng cháy trong lòng đối tượng trữ tình.Bài thơ đã thể hiện ảnh tượng người người hùng trong buổi lên đường xuất dương lưu biệt với tư thế kì vĩ, sống ngang tầm vũ trụ. Người người hùng đó tinh thần rất rõ ràng về “cái tôi công dân” và luôn khắc khoải, day dứt trước sự tồn vong của đất nước, dân tộc.Bài thơ Lưu biệt lúc xuất dương được viết theo văn pháp ước lệ và thổi phồng, rất thích hợp với mục tiêu khích lệ, cổ vũ. Giọng thơ vừa sâu lắng, da diết, vừa sục sôi, hào hùng, mang âm hưởng tráng ca. Nỗi đớn đau, niềm sáng sủa, đon đả hành động cùng tư tưởng cách mệnh đã thổi hồn vào từng câu, từng chữ, từng hình ảnh trong bài thơ. Âm hưởng hào hùng của bài thơ có sức lay chuyển, thức tỉnh rất mập đối với mọi người.Đây là bài thơ từ giã nhưng mà cũng là lời kêu gọi, giục giã lên đường. Tầm vóc bài thơ hoàn toàn tương hợp với tầm vóc của 1 con người được cả dân tộc hâm mộ và tin cậy. Trong tác phẩm Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu (1925) tác giả Nguyễn Ái Quốc đã tôn vinh Phan Bội Châu là: bậc người hùng, vị thiên sứ, đấng lao vào vì độc lập được 2 mươi triệu đồng bào trong khoảng bầy tớ tôn sùng.Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 11Những 5 đầu thế kỉ XX, trong khi non sông Việt Nam mất đi chủ quyền, phong trào Cần Vương thất bại thì tư tưởng dân chủ tư sản đã thổi 1 luồng gió mới tới các thanh niên yêu nước. Họ tìm thấy những lí tưởng mới mẻ và ra đi với 1 niềm tin mạnh bạo vào dân tộc. 1 trong những nhà cách mệnh đã có cuộc ra đi hào hùng tương tự là Phan Bội Châu. Trước lúc lên đường sang Nhật Bản, ông đã viết bài thơ “Lưu biệt lúc xuất dương” như 1 lời từ giã. Đây là 1 bài thơ rực rỡ trong kho tàng văn thơ của Phan Bội Châu. “Làm trai phải lạ ở trên đờiHá để càn khôn tự chuyển dời”Hai câu đầu mở ra 1 quan niệm mới về chí làm trai và vị thế của con người trong xã hội. Đã làm đại trượng phu thì phải sống thật phi thường, hiển hách, dám mưu đồ sự nghiệp, dám xoay chuyển “càn khôn”, dám chủ động chống chọi với thách thức chứ ko sống tiêu cực, tẻ nhạt và bình thường.Con người phải khẳng định được địa điểm của mình trong cuộc đời chứ ko đầu hàng trước số mệnh. Cũng giống như Nguyễn Công Trứ từng dõng dạc: “Làm trai đứng ở trong trời đất/ Phcửa ải có danh gì với sông núi”. Như vậy, Phan Bội Châu đã biểu thị 1 tư tưởng, 1 lẽ sống cao đẹp và văn minh. Từ đấy tác giả tinh thần: “Trong khoảng trăm 5 cần có tớSau này muôn đời, há ko người nào?”Quan niệm mới đã tạo nên nên tinh thần tư nhân gắn với 1 “cái tôi” đầy phận sự trước thời thế. Nhà thơ khẳng định về sứ mạng cao cả, thiêng liêng của mình giữa cuộc đời, tinh thần thâm thúy và phận sự mập lao của bản thân. Không phải chỉ sống 1 cuộc sống nhạt nhòa, phẳng lặng nhưng mà phải sống góp sức, hiên ngang, hiển hách để đánh dấu danh tiếng với hậu thế. Câu thơ thứ tư phủ định chính là để khẳng định dứt khoát hơn về lẽ sống của mình.Những hình ảnh thơ bự mập, kỳ vĩ như “càn khôn”, “trăm 5”, “muôn đời” đã góp phần làm nổi trội lên khao khát sống, góp sức của tác giả. Không chỉ tinh thần được phận sự của mình, Phan Bội Châu còn biểu thị thái độ cương quyết của mình trước thời cục: “Non sông đã chết, sống thêm nhụcHiền thánh còn đâu, học cũng hoài”Bằng tình yêu nước cháy bỏng và đôi mắt tinh tế của mình, Phan Bội Châu đã nhận thức rõ hơn về tình hình non sông khi bấy giờ. Lẽ vinh – nhục được đặt ra như 1 nỗi đau đáu của người đại trượng phu trước cảnh ngộ nước mất, nhà tan. Cũng như những nhà cách mệnh khác, ông cũng trằn trọc về tuyến đường ngày mai của dân tộc, phải làm sao để cứu được non sông. Ông đã tỉnh ngủ nhìn thấy thực tiễn: non sông mất đi chủ quyền, “hiền thánh” cũng chẳng thể làm gì được. Ở câu này, bản dịch thơ chưa sát lắm so với nguyên tác.Bản nguyên tác đã nói lên thái độ dứt khoát, mạnh bạo của Phan Bội Châu: “Thánh hiền đã vắng thì có đọc sách cũng ngu thôi!”. Không phải ông hoàn toàn mất niềm tin ở học thức Nho giáo nhưng mà ông đã minh mẫn nhìn thu được những giảm thiểu của nó. Ấy 1 phần là nhờ vào sự tác động của tư tưởng dân chủ tư sản được truyền vào nước ta. Đứng trước tình hình đấy, Phan Bội Châu đã dấy lên những khát vọng cuồng nhiệt, quyết liệt: “Muốn vượt bể Đông theo cánh gióMuôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi”Hai câu thơ cuối đã vẽ ra tư thế hiên ngang, hào hùng và ko kém phần lãng mạn của người ra đi tìm đường cứu nước. Những hình ảnh thơ mập lao, kì vĩ liên tiếp hiện ra: “bể Đông”, “cánh gió”, “muôn trùng sóng bạc”,… đã góp phần tô đẹp tư thế và khát vọng của con người buổi lên đường. Tuy nhiên, ở bản dịch thơ vẫn chưa làm nổi trội được hết vẻ đẹp của bức tranh này.“Tiễn ra khơi” chỉ là 1 cuộc tiễn đưa phổ biến như bao cuộc tiễn đưa khác, “Ngàn đợt sóng bạc cùng bay lên” mới trình bày đầy đủ và toàn vẹn 1 bức tranh hoành tráng với hình tượng trung tâm là con người, bao quanh là vũ trụ bao la cùng chắp cánh cho mong ước của con người. Trên thực tiễn, đây là cuộc ra đi khá âm thầm, kín đáo, nhưng mà qua bài thơ, tác giả đã trình bày 1 tư thế vô cùng hiên ngang, tự tin vào tiền trình của non sông. Ấy được xem là 1 hình ảnh đẹp trong văn chương, 1 hình ảnh vừa giàu chất sử thi lại vừa hòa quyện với cảm hứng lãng mạn.Bài thơ được bình chọn là 1 trong những thi phẩm có sức quyến rũ mạnh bạo. Không chỉ với tư tưởng và quan niệm mới mẻ nhưng mà còn những nét nghệ thuật rực rỡ. Thi phẩm được viết với thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật thích hợp với việc “nói chí” của Phan Bội Châu. Hình ảnh thơ kỳ vĩ, mập lao góp phần lột tả toàn vẹn những khát vọng hành động và tinh thần phận sự của tác giả. Giọng thơ linh động, sôi nổi và mạnh bạo.Như vậy, cả bài thơ đã xây dựng được hình tượng người chí sĩ cách mệnh với vẻ đẹp hào hùng lãng mạn. Bằng tâm huyết và tình yêu nước sâu nặng của mình, Phan Bội Châu đã ko chỉ biến thành 1 nhà cách mệnh nhưng mà còn biến thành 1 văn sĩ mập của dân tộc, đáng được thiên hạ sau tôn kính.Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 12“Chúng ta có thể nói rằng trong lịch sử giải phóng dân tộc của dân chúng Việt Nam, trước Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phan Bội Châu là 1 đối tượng lớn lao (Tôn Quang Phiệt), Phan Bội Châu là vong linh của các phong trào di chuyển giải phóng Đất nước khoảng 25 5 đầu thế kỉ XX.Danh tiếng ông bất diệt với các tổ chức yêu nước như Hội Duy Tân, phong trào Đông Du, Việt Nam Quang Phục hội… Danh tiếng Phan Bội Châu gắn liền với hàng trăm bài thơ, hàng chục cuốn sách, 1 số bài văn tế và vài 3 vở tuồng tràn đầy ý thức yêu nước. “Phan Bội Châu câu thơ dậy sóng” (Tố Hữu).5 1900, Phan Bội Châu đậu hương nguyên khoa thi Hương trường Nghệ. 5 1904 ông sáng lập ra Hội Duy Tân, 1 tổ chức yêu nước. 5 1905 ông dấy lên phong trào Đông Du. Trước khi lên đường Đông du, qua Trung Hoa, Nhật Bàn đế nguyện cầu viện với bao hoài bão vùng vẫy, ông đã để lại đồng đội bài thơ Lưu biệt lúc xuất dương (Xuất dương lưu biệt.) được viết bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn bát cú Đường luật.Đây là khúc tráng ca bộc lộ tư thế. quyết 8 hăm hở, và những ý nghĩa cao cả mới mẻ của chí sĩ Phan Bội Châu trong buổi đầu xuất dương cứu nước. Hai câu đề là 1 tuyên ngôn về chí hướng, về lẽ sống cao cả: Sinh vi nam tử yếu hi kìKhẳng hẹn càn khôn tự di chuyển.Kiêu hãnh mình là đấng đại trượng phu thì phải sống cho ra sống mong muốn làm nên điều lạ (yếu hi kì). Suy rộng ra, là chẳng thể sống bình thường. Không thể sống 1 cách tiêu cực để cho trời đất (càn khôn) tự chuyển dời 1 cách vô vị, nhạt nhẽo. Câu thơ trình bày 1 tư thế, 1 tâm thế rất đẹp về chí đại trượng phu, tự tin ở đức độ và tài năng của mình, muốn làm nên sự nghiệp bự mập, xoa chuyển trời đất, như ông đã nói rõ trong 1 bài thơ khác: Dang tay ôm chặt bồ kinh tế,Mở mồm cười tan cuộc ân oán thù.Gắn câu thơ với sự nghiệp cách mệnh hết sức sôi nổi của Phan Bội Châu ta mới cảm thu được cái khí người hùng của nhà nhà thơ lớn lao. Đấng đại trượng phu muốn làm nên điều lạ ở trên đời, từng nấu nung và tâm niệm theo 1 vần thơ cố: Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch,Lập thân tối hạ thị văn học. (Tùy viên thi thoại – Viên Mai) (Bữa bữa những mong ghi sử sách,Lập thân nặng nhất đó văn học).Đấng đại trượng phu muốn làm nên điều lạ ở trên đời đó có 1 bầu máu hot sùi sục: “Tôi được trời phú cho bầu máu hot cũng ko tới nỗi it, khi còn nhỏ đọc sách của cha tôi, mỗi lúc tới những chỗ nơi người xưa chịu chết để thành đạo nhân, nước mắt lại tầm tã bé xuống ướt đầm cả giấy…” (Ngục trung thư). Phần thực, ý thơ mở mang, tác giả tự khẳng định vai trò của mình trong xã hội và trong lịch sử: Ư bách niên trung tu hữu ngã,Khởi thiên tải hậu cánh vô thủy.Ngã là ta, tu hữu ngã tức là phải có ta trong cuộc đời 1 trăm 5 (bách niên trung). Câu thơ khẳng định bộc lộ niềm kiêu hãnh mập lao của kẻ sĩ trong cảnh nước mất nhà tan. Thiên tải hậu ngàn 5 sau, là lịch sử của non sông và dân tộc há lại ko có người nào (để lại danh tiếng) ư? Hai câu 3, 4 đối nhau, lấy cái phủ định đế làm nổi trội điều khẳng định.Ấy là 1 ý thơ thâm thúy thế hiện vai trò tư nhân trong lịch sử: chuẩn bị đảm trách mọi phận sự nhưng mà lịch sử phó thác. Ý nghĩ xinh xắn này là sự kế thừa những tư tưởng lớn lao của các vĩ nhân trong lịch sử: “Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, ngàn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng”. (Trần Quốc Tuấn). Nhân sinh tự cổ thùy vô tửLưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh. (Văn Thiên Tường) Lấy cái hữu hạn – bách niên – của 1 đời người đối với cái vô bờ – nhân tài – của lịch sử dân tộc, Phan Bội Châu đã hình thành 1 giọng thơ đĩnh đạc. hào hùng, bộc lộ 1 cố gắng và khát vọng trong buổi lên đường. Vì vậy. trên bước đường cách mệnh giải phóng dân tộc, trải qua vô vàn thách thức và nguy hiểm, ông vẫn quật cường, sáng sủa: Thân đó hãy còn, còn sự nghiệp,Bao nhiêu gian nguy sợ gì đâu!Phần luận tác giả nói về sống và chết, nói về công danh. Đây là 1 ý nghĩ rất mới lúc ta soi vào lịch sử dân tộc những 5 ám muội dưới giai cấp thống trị của thực dân Pháp. Khi quốc gia đã chết, đã bị ngoại quốc đánh chiếm, giày xé thì thân phận dân ta chỉ là kiếp ngựa trâu, có sống cũng nhơ nhuốc điếm nhục. Trong tình cảnh đó có nấu sử nghiền kinh, có chúi đầu vào tuyến đường khoa cử cũng bất nghĩa. Sách vở của thánh hiền liệu còn có lợi gì trong sự nghiệp cứu sơn hà. Non sông đã chết, sống thêm nhục,Hiền thánh còn đâu học của hoài.Phan Bội Châu đã đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trước tiên. Ông nói bằng tất cả tâm huyết và tâm thành. Ông nhắc nhở mọi người phải đoạn tuyệt với lối học sĩ tử, chẳng thể đắm chìm trong khoảng hư danh, nhưng mà phải hăm hở đi tìm lí tưởng cao cả. Trong bài Bài ca chúc tết thanh niên viết vào dịp Tết 5 1927. Cụ khẩn thiết kêu gọi thanh niên: Ai hữu chí từ nay xin gắng gỏiXếp bút nghiên nhưng mà tu dưỡng lấy tinh thầnĐừng ham chơi, đừng ham mặc, ham ănDựng gan có lên đánh tan sắt lửaXối máu hot rửa vết nhơ bầy tớ…Sống như thế là sống đẹp. Sống như thế mới mong làm nên điều lạ ở trên đời, mới tự khẳng định được: Trong khoảng trăm 5 cần có tớ. Phần kết là sự kết tinh của 1 hồn thơ bay bổng đượm sắc lãng mạn: Nguyệt trục trường phong Đông hải khứ,Thiên trùng bạch lãng nhất loạt phi.Thơ văn Phan Bội Châu là thơ văn tuyên truyền, khích lệ lòng yêu nước, khêu gợi lòng phẫn nộ giặc. Thơ văn Phan Bội Châu sở dĩ biến thành những nhân ái quốc vì thấm đượm xúc cảm, sục sôi tâm huyết, có nhiều hình tượng đẹp nói về cảm hứng yêu nước và lí tưởng người hùng. Hai cấu kết là 1 tỉ dụ hùng hồn: Trường phong – Ngọn gió dài. Thiên trùng bạch lãng – nghìn lớp sóng bạc, là 2 hình tượng kì vĩ. Chí khí của người chiến sĩ cách mệnh được diễn đạt qua các vị ngữ nguyện trục (mong đuổi theo) và nhất loạt phi (cùng bay lên).(adsbygoogle=window.adsbygoogle||[]).push({})Cái ko gian bát ngát nhưng mà nhà chí sĩ mong vượt qua là Đông hải. Hai thanh trắc cho âm điệu cất lên, bay lên. Âm hưởng bổng trầm đó cũng góp phần trình bày cố gắng mạnh bạo lên đường cứu nước của Phan Bội Châu. Ở đây nội lực, khả năng tranh đấu và khẩu khí của người chiến sĩ có sự hòa hợp, gắn bó và hợp nhất. Sự nghiệp cách mệnh của Phan Bội Châu đã cho hậu thế biết rõ và cảm phục điều Tiên sinh đã nói ở 2 cấu kết.Lưu biệt lúc xuất dương là bài thơ tuyệt bút đầy nhiệt huyết. Bài thơ là ngôn ngữ kiêu hãnh của nhà chí sĩ giàu lòng yêu nước, thương dân, dám lao vào vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. 1 giọng thơ đĩnh đạc hào hùng. Tráng lệ nhất là ở 2 cấu kết. Bài thơ trình bày 1 cách thâm thúy nhất cảm hứng yêu nước và lí tưởng người hùng của nhà chí sĩ lớn lao Phan Bội Châu.Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 13Phan Bội Châu vốn được biết tới là 1 chí sĩ yêu nước, là 1 người chỉ huy nhiều phong trào yêu nước. Tuy tuyến đường nhưng mà Phan Bội Châu đang đi gặp nhiều hắc búa và tới rốt cuộc ông phải chịu thất bại nhưng mà ông vẫn là tấm gương sáng của lứa tuổi tương lai. Không chỉ là 1 người chí sĩ, Phan Bội Châu còn là 1 người nghệ sĩ với nhiều tác phẩm hay.5 1905, Hội Duy Tân của có chủ trương phong trào Đông Du, và đưa thanh niên ưu tú sang Nhật. Việc này vừa nhằm mục tiêu sẵn sàng lực lượng cốt cán cho cách mệnh, vừa nhằm mục tiêu tranh thủ sự hỗ trợ của các thần thế bên ngoài. Ngày trước lúc lên đường, Phan Bội Châu đã làm bài thơ Lưu biệt lúc xuất dương để bộc bạch ý kiến và xúc cảm của mình đối với những người đồng đội, đồng chí.Trong bài thơ Xuất dương lúc lưu biệt, Phan Bội Châu đã sử dụng tiếng nói thơ giàu sức lay chuyển. Người chí sĩ cách mệnh hiện lên trong thơ mang 1 vẻ đẹp vừa lãng mạn, vừa hào hùng. Trong buổi ra đi tìm đường cứu nước, những tư tưởng mới mẻ, táo tợn của nhà chí sĩ cách mệnh được trình bày 1 cách cháy bỏng. Mở màn bài thơ, Phan Bội Châu đã khẳng định chí làm trai ở trong trời đất: Làm trai phải lạ ở trên đờiHá để càn khôn tự chuyển dờiTrước đây, Nguyễn Công Trứ cũng đã từng nói về chí làm trai rằng đã làm trai ở trong trời đất thì phải có danh gì với sông núi. Giờ đây, Phan Bội Châu cũng nói về chí làm trai nhưng mà viết theo 1 cách khác mới mẻ hơn. Ấy chính là làm trai thì phải làm nên được điều lạ ở trên đời.Điều lạ ở đây có thể hiểu là đứng lên chống lại đối phương. Làm trai thì phải chủ động chứ ko nên thụ động để số mệnh cuộc đời mình cho trời đất xoay chuyển. Ấy là 1 lời thuyết phục lứa tuổi trẻ phải biết táo tợn và quyết liệt hơn nữa. Chí làm trai của Phan Bội Châu đã vượt qua cái mộng công danh lâu nay là gắn với tam cương, ngũ thường của Nho giáo. Chí làm trai của Phan Bội Châu vươn đến lí tưởng xã hội bao la và cao cả.1 phần cảm hứng đó có nhẽ cũng xuất hành từ lý tưởng trí quân, trạch dân của nhà Nho thuở trước nhưng mà vì mang thuộc tính cách mệnh nên tư tưởng trở thành văn minh hơn. Đúng như thiên nhiên, hồng quân xoay vần là lẽ thiên nhiên nhưng mà Phan Bội Châu bác bỏ điều đấy.Ông muốn xoay chuyển cả càn khôn chứ ko để nó tự chuyển vần. Điều này đồng nghĩa với việc Phan Bội Châu bác bỏ khuất phục số mệnh hay tình cảnh. Sang tới 2 câu thực, thi sĩ tinh thần rõ về phận sự của mình trước lịch sử, trước vận mệnh của non sông: Trong khoảng trăm 5 cần có tớSau này muôn đời há ko người nàoKhông chỉ dễ dãi là công nhận sự có mặt của đối tượng trữ tình ở trên đời nhưng mà câu thơ thứ 3 còn hàm chứa 1 tâm niệm đấy là sự hiện diện của tác giả trên đời không hề điều tình cờ. Chính từ tinh thần đấy, thi sĩ tự thấy bản thân cần phải làm những điều có lợi bởi vì sau này, chắc cũng sẽ có người nối liền tuyến đường nhưng mà mình đã đi. Cái chí làm trai ko chỉ là cái lý tưởng nghĩ suy ở trong lòng tác giả nhưng mà nó được tác giả đặt vào trong tình cảnh thực tiễn của lịch sử: Non sông đã sống chết thêm nhụcHiền thánh còn đâu học cũng hoàiỞ mỗi thời, có nhẽ chí làm trai mỗi khác. Giả dụ ở thời bình, chí làm trai là thi đỗ, làm quan thì thời chiến, sự nghiệp học hành, đeo đuổi hiền thánh ko còn đúng nữa. Nếu non sông lâm nguy, rơi vào tay giặc thì việc học hành nào có lợi gì. Non sông nhưng mà ko còn thì sống chỉ thêm nhục. Ấy là lý tưởng của con người thời đại. Đối với Phan Bội Châu, việc hiện thời là phải đánh đuổi được giặc thù. Hai câu thơ cuối đã trình bày được khát vọng muốn vươn ra biển mập của thi sĩ: Muốn vượt biển Đông theo cánh gióMuôn trùng sóng bạc tiễn ra khơiHình ảnh trong 2 câu thơ mang tầm vũ trụ, nó làm cho ý chí của tác giả trở thành mập lao hơn, kì vĩ hơn. Tất cả mọi thứ cứ như hòa nhập lại và cùng nhau thăng hoa.Bài thơ Lưu biệt lúc xuất dương đã có sức lay chuyển lòng người, cổ vũ ý thức tướng sĩ khi bấy giờ. Đây xứng đáng là 1 tuyệt tác nhưng mà ko chỉ lứa tuổi trước, cả lứa tuổi chúng ta, lứa tuổi sau này cũng đều rút ra được bài học cho riêng mình.Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 14“Con người viết văn, con người làm thơ trong Phan Bội Châu đồng tình với con người chính trị. Ngòi bút Phan Bội Châu sáng ngời chủ nghĩa yêu nước, lí tưởng người hùng”. Phan Bội Châu là người trước hết nuôi ý nghĩ đi tìm tuyến đường cứu nước mới, cả cuộc đời văn học của ông chính là cả cuộc đời cách mệnh sáng ngời. Và lúc ý chí làm trai sục sôi trong tim ông thì cũng là khi “Lưu biệt lúc xuất dương” có mặt trên thị trường, ghi lại thời khắc ông lên đường sang Nhật, giã biệt bằng hữu, đồng đội.Đối với Phan Bội Châu, là đấng đại trượng phu là phải có chí hướng riêng cho mình, chí làm trai của đứa con đất nam, ông quan niệm:“Làm trai phải lạ ở trên đờiHá để càn khôn tự chuyển dời. ”Con người tuy bé nhỏ nhưng mà chính ý chí, tư thế đã làm con người bự mập hơn so với vũ trụ. Và với Phan Bội Châu, “chí” để xây dựng được 1 con người hiển hách chính là chí làm trai. Làm trai là phải “lạ”, là phải biết sống cho phi thường hiển hách. Dám mưu đồ những chuyện động địa kinh thiên, xoay chuyển càn khôn. Đây là quan niệm này gần gụi với lí tưởng nhân sinh của các nhà nho thuở trước nhưng mà nó táo tợn hơn, quyết liệt hơn, con người dám đương đầu với vũ trụ, với đất trời bao la để tự khẳng định mình. Chính quan niệm vừa kế thừa truyền thống, vừa mới mẻ này đã tạo ra 1 con người, 1 Phan Bội Châu với tư thế khỏe khoắn, ngang tàn, ngạo nghễ, thử thách càn khôn. Ấy chính là tư thế chủ động trước thời cục, là lí tưởng vì nước, vì dân.Phạm Ngũ Lão đã từng bộc bạch quan niệm về chí làm trai của mình qua 4 câu thơ của “Thuật hoài”“Múa giáo quốc gia trải khắp thuBa quân khí mạnh nuốt trôi trâuCông danh quân tử còn vương nợ,Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu. ”Phạm Ngũ Lão như tinh thần được phận sự của bản thân trước thời cục, trước vận mệnh non sông. Suy nghĩ của Phạm Ngũ Lão đầy thiết thực;1 ngày còn bóng kẻ thù là nợ công danh của tuổi xanh với sơn hà, xã tắc vẫn còn vương, chưa trả hết. Dù ở cách nhau 7 thế kỉ nhưng mà quan niệm về chí làm trai của Phạm Ngũ Lão và Phan Bội Châu vẫn có nét giống nhau, nó như nền móng của bất kì bậc đại trượng phu nào cũng phải có dù ở thời nào. Phan Bội Châu đã nói rằng:“Trong khoảng trăm 5 cần có tớSau này muôn đời há ko người nào?”Chí làm trai là phải gắn liền với tinh thần của bản thân, tinh thần về cái tôi chứ chẳng thể nào sống bình thường tẻ nhạt, buông xui theo số mệnh. Ấy là cái tôi công dân đầy phận sự trước thời cục, trước số mệnh. Bằng nghệ thuật đối ý, tác giả đã khẳng định trong 1 khoảng trăm 5 cần có sự còn đó của mình và sau này lẽ nào ko có người nào hiểu và tiếp bước của ông hay sao. Và quả đúng như lời ông nói lúc sau đấy người thanh niên Nguyễn Tất Thành – Bác Hồ lớn lao đã ra đi tìm đường cứu nước, xây dựng nên nước Việt nam dân chủ Cộng hòa.Câu 3 vừa khẳng định dứt khoát về vai trò của cái “Tôi”, góp sức cho đời, lưu danh thiên cổ thì câu 4 lại chuyển sang nghi vấn bằng câu hỏi tu từ nhằm khẳng định quyết liệt hơn 1 khát vọng sống hiển hách, phát huy hết tài năng để góp sức cho đời. Phan Bội Châu như đã vừa khẳng định tinh thần và phận sự công dân của mình, của mọi người. Với cảm hứng lãng mạn, bay bổng gắn với hình tượng nghệ thuật kì vĩ đã gia tăng khát vọng, niềm tin, lòng yêu nước sục sôi, khẩn thiết của dân tộc.Tới với 2 câu thơ 5, 6 chính là nhận thức, thái độ quyết liệt của kẻ làm trai trước cảnh ngộ non sông phải rơi vào tay lũ giặc, tay sai, bán nước.“Non sông đã chết, sống thêm nhục,Hiền thánh còn đâu học cũng hoài!”Non sông, non sông là 1 phần hình thành con người, cốt cách, quốc gia chết ta biến thành bầy tớ thì sống chỉ thêm nhục. Giờ đây, sách vở thánh hiền chẳng còn ích gì nước lúc nước đã mất, nhà đã tan. Phan Bội Châu đã xây dựng 1 tư tưởng mới mẻ đầy táo tợn, văn minh mang đậm tính cách mệnh. Đây như lời tự bạch về nỗi đớn đau, xót xa, tủi hổ của đứa con mất nước nhưng mà lại hé mở tuyến đường cách mệnh rửa nhục sơn hà.Hằng hà sa số ý tưởng cũng chẳng bằng 1 hành động và lúc ý chí sôi sục trong Phan Bội Châu đạt đến cực điểm thì cũng là khi ông ra đi tìm tới ánh sáng chỉnh sửa vận mệnh non sông. Ông ra đi với tư thế hiên ngang mang trong mình đầy khát vọng.“Muốn vượt bể Đông theo cánh gió,Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi. ”Những hình ảnh mập lao, kì vĩ: Bể Đông cánh gió, muôn trùng sóng bạc như tạo cho Phan Bội Châu 1 tư thế như bay lên. Hình ảnh đó thật hào hung, lãng mạn, con người như được chắp đôi cánh thiên thần bay lên trên thực tiễn u tối, nghiệt ngã, vươn ngang tầm vũ trụ. Ấy là 1 tư thế hăm hở, đầy tâm huyết thăng hoa, 1 tấm lòng yêu nước của 1 thi sĩ, nhà cách mệnh.“Nhân sinh trăm 5 như 1 giọt nước vươn nơi mi mắt, nhẹ như hồng mao lại nặng như thái sơn”. 1 kiếp người, nếu ta chọn cuộc sống vì mình thì cuộc sống không hề lo nghĩ vì người nào nhưng mà giương mắt nhìn non sông lầm than thì làm sao có thể yên giấc. Phan Bội đã chọn tuyến đường ra đi tìm đường cứu nước, ông chẳng thể nhìn và để bản thân mình biến thành bầy tớ. Bằng giọng thơ nhiệt huyết có sức lay chuyển mạnh bạo, “Lưu biệt lúc xuất dương” đã khắc họa vẻ đẹp hào hùng của nhà chí sĩ cách mệnh những 5 đầu thế kỉ XX, với tư tưởng mới mẻ và khát vọng cháy bỏng trong buổi đầu ra đi tìm đường cứu nước.

[rule_2_plain] [rule_3_plain]

#Văn #mẫu #lớp #Phân #tích #bài #Lưu #biệt #lúc #xuất #dương #Dàn #mẫu #Phân #tích #Lưu #biệt #lúc #xuất #dương

Văn mẫu lớp 11: Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương (Dàn ý + 14 mẫu) Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương

Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương mang lại 14 bài văn mẫu siêu hay đạt điểm cao nhất của các bạn lớp 11. Qua đấy giúp học trò có thêm nhiều gợi ý tham khảo, nắm vững tri thức căn bản, củng cố kỹ năng viết văn, mở mang vốn từ để biết cách viết bài văn hay cho riêng mình.(adsbygoogle=window.adsbygoogle||[]).push({})Lưu biệt lúc xuất dương là bài thơ tuyệt bút đầy nhiệt huyết. Bài thơ là ngôn ngữ kiêu hãnh của nhà chí sĩ giàu lòng yêu nước, thương dân, dám lao vào vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. 1 giọng thơ đĩnh đạc hào hùng. Vậy sau đây là 14 bài văn mẫu phân tách Lưu biệt lúc xuất dương, mời các bạn cùng theo dõi tại đây.Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương hay nhấtDàn ý phân tách Lưu biệt lúc xuất dươngDàn ý phân tách bài Lưu biệt lúc xuất dươngPhân tích tác phẩm Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 1Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương hay nhất – Mẫu 2Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 3Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 4Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 5Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 6Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 7Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 8Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 9Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 10Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 11Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 12Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 13Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 14(adsbygoogle=window.adsbygoogle||[]).push({})Dàn ý phân tách Lưu biệt lúc xuất dương1. Mở bài:Trình bày nói chung những nét cốt yếu nhất về cuộc đời và sự nghiệp Phan Bội Châu: Đôi nét về cuộc đời hoạt động cách mệnh và sự nghiệp văn học…Giới thiệu nói chung nội dung và nhấn mạnh tầm quan trọng của bài thơ Lưu biệt lúc xuất dương: Bài thơ đó là điển hình cho ý thức yêu nước của chính tác giả2.Thân bài:- Phân tích 2 câu thơ đầu (2 câu đề): Quan niệm về chí làm trai của Phan Bội Châu+ Tác giả nêu lên quan niệm mới: là đấng đại trượng phu phải sống với khát vọng, mong muốn làm nên điều kì dị : “ yếu hi kì”, ko cam chịu để cho trời đất xoay chuyển mình.⇒ Tư thế, 1 tâm thế đẹp về chí đại trượng phu phải tin cậy ở chừng độ và tài năng của mình ⇒ Tuyên ngôn về chí làm trai.- Hai câu thực: Khẳng định tinh thần phận sự của tư nhân trước thời cục+ Câu 3: “Tu hữu ngã” (phải có trong cuộc đời) → tinh thần phận sự của cái tôi tư nhân trước thời cục, tinh thần rõ vai trò, tầm quan trọng của tư nhân đối với vận mệnh trăm 5. Điều này đối lập với sự tự phụ tư nhân.+ Câu 4: Tác giả lại chuyển giọng nghi vấn “cánh vô thùy” (há ko người nào?) ⇒khẳng định kiên quyết hơn khát vọng sống hiển hách, phi thường, phát huy hết tài năng trí óc hiến dâng cho đời.(adsbygoogle=window.adsbygoogle||[]).push({})→ Tinh thần thâm thúy trình bày vai trò tư nhân trong lịch sử: chuẩn bị đảm trách mọi phận sự nhưng mà lịch sử phó thác.- Hai câu luận : Quan niệm về nguyên lý hành xử mới của Phan Bội Châu trước vận mệnh non sông+ Cảnh ngộ non sông: “Non sống đã chết”, non sông đã rơi vào tay giặc+ Quan niệm mới mẻ, đối lập với các tín điều xưa cũ: tinh thần về lẽ vinh nhục gắn với sự tồn vong của non sông: “sống thêm nhục :“Hiền thánh còn đâu cũng học hoài”+ Người cách mệnh cảm nhận sự tồn vong của mình trong mối quan hệ trực tiếp với sự tồn vong của dân tộc ⇒ hành động linh hoạt, luôn tiếp nhận những tư tưởng mới mẻ, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên bậc nhất, đối lập với ý kiến cứu nước bê trễ, lỗi thời của các nhà Nho đương thời.- Hai cấu kết: Tư thế và khát vọng buổi lên đường+ Tư thế lên đường của người chí sĩ thật sự hoành tráng:“Nguyện trục trường phong Đông hải khứTiên trùng bạch lãng nhất loạt phi”+ Những hình tượng kì vĩ được sử dụng: “trường phong”- ngọn gió dài, mập; “Thiên trùng bạch lãng” (nghìn lớp sóng bạc) ⇒ Tư thế hiên ngang, mong muốn mập lao mang tầm vũ trụ của người cách mệnh.⇒ Tầm vóc của ý chí con người đã mập lao hơn, ko cam chịu trói mình trong phạm vi, vượt ra ngoài vòng kiểm tỏaIII. Kết bài:Khái quát về những nét rực rỡ nghệ thuật mang đến thành công cho tác phẩm.Khẳng định lại nội dung tư tưởng của tác phẩm và liên hệ về ý chí, khát vọng của con người trong thời đại hiện tại.Dàn ý phân tách bài Lưu biệt lúc xuất dươngI. Mở bài- Phan Bội Châu (1867-1940) quê ở Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. 5 1900 đỗ Gicửa ải nguyên. Ông sáng lập ra Hội Duy Tân (1904). 5 1905, kín đáo sang Nhật, dấy lên phong trào Đông Du, tổ chức Việt Nam Quang phục hội. 5 1925, ông bị thực dân Pháp bắt cóc tại Thượng Hải, đưa về Hà Nội với cái án xử tử. Trước sức mạnh chiến đấu của dân chúng ta, chúng đưa ông về giam lỏng ở Huế.(adsbygoogle=window.adsbygoogle||[]).push({})- Là chiến sĩ yêu nước lớn lao, là nhà văn, thi sĩ mập của non sông ta trong thế kỉ 20 – Thơ văn Phan Bội Châu là thơ văn yêu nước và tuyên truyền cổ động cách mệnh sục sôi đầy tâm huyết.- Bài thơ Lưu biệt lúc xuất dương được Phan Bội Châu viết 5 1905, trong khi chia tay đồng đội, bằng hữu, trước khi kín đáo sang Nhật, dấy lên phong trào Đông Du.- Bài thơ khẳng định chí làm trai và cố gắng xuất dương, là nên sự nghiệp mập cứu nước cứu dân.II. Thân bài: Phân tích bài thơ1. Hai câu đề- Kẻ đại trượng phu phải mong có điều lạ, tức là chẳng thể sống bình thường nhưng mà phải làm nên sự nghiệp mập. Lưu lại tiếng thơm muôn thuở. Con người đó sống chủ động, hăng hái, có ý thức làm chủ tự nhiên, há để càn khôn tự chuyển dời?2. Hai câu thực- Tác giả tự tinh thần về cái Tôi (ngã: tôi, tớ). Rất kiêu hãnh về vai trò của mình trong cuộc đời (1 trăm 5) và trong xã hội, lịch sử (nghìn 5 sau).- Tác giả hỏi: Chẳng lẽ nghìn 5 sau, lại ko có người nào (để lại danh tiếng) ư? Nhằm khẳng định 1 ý nghĩ lớn lao nhưng mà như người đồng hương của Phan Bội Châu trước đấy nửa thế kỉ đã nhiều lần rồi:Đã mang tai mang tiếng ở trong trời đất,Phcửa ải có danh gì với sông núi.(Nguyễn Công Trứ)- Quan niệm về công danh, về chí đại trượng phu của Phan Bội Châu mới mẻ, văn minh, hướng về Đất nước và dân chúng, như ông đã viết: Xối máu hot rửa vết nhơ bầy tớ. Tất cả vì nước, vì dân chứ không hề vì nghĩa vua – tôi: “Dân là dân nước, nước là nước dân”.3. Hai câu luận- Nêu lên 1 quan niệm sống đẹp của kẻ sĩ trước thời cục và lịch sử dân tộc. Non sông đã chết, 1 cách nói rất hay, cảm động về nỗi đau thương của non sông ta, dân chúng ta đang bị thực dân Pháp thông trị. Trong Hải ngoại huyết thư, tác giả viết: hồn nước chơ vơ. Kẻ đại trượng phu, kẻ sĩ lập công danh trước tiên bằng tuyến đường học hành và thi cử. 1 ý thơ phủ định về cách học cũ kĩ lỗi thời là đọc sách thánh hiền (nho giáo)… cách học đó rất lỗi thời, bất nghĩa, càng học càng ngu, càng u mê. Đây là 2 câu có tư tưởng thâm thúy, văn minh nhất, cho thấy Phan Bội Châu là 1 chí sĩ đi đầu:(adsbygoogle=window.adsbygoogle||[]).push({})Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế,Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si.4. Hai câu kết- Hình tượng thơ kì vĩ lên 1 chí mập mang tầm vũ trụ. Không phải gió nhẹ nhưng mà là trường phong. Không phải quẩn quanh chốn quan trường hoặc nơi trường ốc chật hẹp, nhưng mà là đi ra biển Đông với 1 sức mạnh phi thường, cùng bay lên với nghìn lớp sóng bạc. Đây là những câu thơ cuốn hút nhất của Phan Bội Châu bộc lộ 1 bầu tâm huyết:Nguyện trục trường phong Đông hải khứ,Thiên trùng bạch lãng nhất loạt phi.III. Kết bài- Vẫn là thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, bằng chữ Hán. Giọng thơ nghiêm trang, đĩnh đạc hào hùng, mạnh bạo, quyến rũ.- Thể hiện 1 chí mập phi thường: ko cam tâm làm bầy tớ, quyết đi tìm đường cứu nước. Không phải là khẩu khí nhưng mà sự thực lịch sử đã công nhận Phan Bội Châu đã sống và hành động như thơ ông đã viết ra.- Lưu biệt lúc xuất dương mang âm điệu người hùng ca, tràn đầy tình yêu nước và cố gắng lên đường cứu nước.Phân tích tác phẩm Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 1Phan Bội Châu được coi là 1 trong số những người hùng kiệt xuất có tầm tác động mập đối với cách mệnh Việt Nam trong những 5 đầu của thế kỉ XX. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mệnh của mình ông chưa 1 lần thừa hưởng thú vui thắng lợi nhưng mà tình yêu non sông, khát vọng hòa bình và ý chí chiến đấu của ông luôn là ngọn lửa tiếp thêm tâm huyết, say mê cho nhiều lứa tuổi sau này. Nhưng trước tiên, thơ ca là trận mạc để ông biểu thị điều đó. Lưu biệt lúc xuất dương là 1 bài thơ như thế. Ra đời vào thời khắc, thi sĩ sẵn sàng lên đường sang Nhật để tiến hành chí mập, tác phẩm đã trình bày niềm khao khát mãnh liệt, mong đợi 1 sự nghiệp kinh bang tế thế chỉnh sửa vận mệnh cho sơn hà:Làm trai phải lạ ở trên đời…Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơiBài thơ bắt đầu bằng 1 quan niệm rất không xa lạ của Nho giáo: chí làm trai.Làm trai phải lạ ở trên đời,Há để càn khôn tự chuyển dời.Nếu đặt trong mạch nguồn của thơ ca trung đại, việc nói đến tới lý tưởng xã hội này là điều rất dễ thấy. Danh tướng đời Trần Phạm Ngũ Lão và sau này là bậc nho sĩ a ma tơ Nguyễn Công Trứ đã từng nói đến.Công danh nam tử còn vương nợ,Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu(Tỏ lòng – Phạm Ngũ Lão)Đã mang tai mang tiếng ở trong trời đất,Phcửa ải có danh gì với sông núi.(Đi thi tự vịnh – Nguyễn Công Trứ)Cái chí của đấng đại trượng phu ở đây là công, là danh. Họ trông vào đấy nhưng mà kiếm tìm sự nghiệp, khẳng định bản thân mình trước cuộc đời, trước mọi người. Nhưng cách trình bày của Phan tiên sinh trong bài thơ này lại gây 1 ấn tượng mạnh. Cái chí của kẻ làm trai lại trở thành kì vĩ, mập lao. Bởi nó được đặt trong 1 ko gian đặc trưng, đấy là vũ trụ. Nếu nhìn từ ko gian đó, bậc đại trượng phu sẽ còn có nhiều khát khao hơn là công và danh. Chữ lạ trong bản dịch thơ tuy hay nhưng mà chưa làm toát lên được ý nghĩa từ chữ kì trong văn bản gốc. Làm trai phải lạ cần được hiểu là làm được những việc kì dị, kiệt xuất, phi thường. Muốn làm được điều đó, người quân tử phải được đặt trong 1 ko gian chẳng thể là trên đời được, nhưng mà phải là càn khôn. Vì “đời” tưởng rộng nhưng mà hóa ra lại hẹp, mới chỉ là toàn cầu nhân loại, còn “càn khôn” là vũ trụ rộng lớn. Cho nên cái hay trong 2 câu đề là ko gian đó tới câu thứ 2 mới hiện ra, nó làm tôn lên hình ảnh 1 bậc đại trượng phu nam nhi, anh hào dõng dạc hô vang ở câu đầu rằng phải lạ. Có tức là đấng nam tử đâu chỉ trông mong, tiêu cực, phó mặc cho tạo hóa xoay vần, nhưng mà phải chủ động, lao vào chỉnh sửa cả càn khôn, trời đất, cải tạo cả vũ trụ, sơn hà. Mạnh bạo hơn là phải biết sống hiển hách, dám mưu đồ những việc mập, động địa kinh thiên, non sông lâm nguy hoá ra tay cứu nước, chỉnh sửa lịch sử. Cảm hứng sử thi, lãng mạn đã nâng tầm chí làm trai lên 1 dung mạo mới. Đặt trong bối cảnh có mặt trên thị trường bài thơ, hình ảnh đấng đại trượng phu mang tầm vóc vũ trụ đó đã bắt đầu cho 1 khúc khải hoàn ca đầy hùng tráng, phi thường về ý chí và ý thức yêu nước.(adsbygoogle=window.adsbygoogle||[]).push({})Hai câu đề đã mở ra ko gian bao la, tới 2 câu thực lại mang đến độ tối đa chỉ cần khoảng của đời người:Trong khoảng trăm 5 cần có tớ,Sau này muôn đời, há ko người nào?Trong quan niệm chung về đấng đại trượng phu ở trên, Phan Bội Châu đã nêu lên được tinh thần tư nhân đầy khẳng khái của bản thân mình. Tới 2 câu này, tinh thần tư nhân đó càng rõ hơn. Có thể hiểu trong vòng 1 trăm 5 này, chẳng thể thiếu được ta. Ta phải biến thành đối tượng lịch sử, ta có sứ mạng xoay chuyển càn khôn để chỉnh sửa cả gương mặt lịch sử của thế kỉ này. Ta bỗng vút lên giữa cái hết sức bất tận của ko gian và thời kì như thế, bảo sao lại ko nguy nga, lộng lẫy. Chữ tớ dịch khá thú vị, vừa có chút dí dỏm vừa vẫn khẳng định cái tôi đầy mạnh bạo. Tinh thần tư nhân được vươn cao, vươn rộng theo ko gian và còn vươn dài theo cả thời kì nâng tầm nhận thức cao cả về sứ mạng của con người trước lịch sử. Cái tôi như thế thật là vừa lãng mạn vừa hùng dũng!Xoay chuyển càn khôn, làm chủ lịch sử tưởng hình như đã quá bự tát, đó vậy nhưng mà cái phải lạ của bậc hào kiệt còn khiến người ta bất thần hơn:Non sông đã chết, sống thêm nhụcHiền thánh còn đâu, học cũng hoài.Trong bối cảnh của sự chuyển giao thời đại, dẫu có mới mẻ tới đâu cũng vẫn phải có sự chỉnh sửa dần dần. Nhưng nhận thức của Phan tiên sinh lại khiến người ta thấy thật phi thường. Đúng quốc gia đã chết là cách nhân hóa rất sống động cho hiện nay của sơn hà. Kẻ địch ngoại quốc chiếm lấy chủ quyền thì coi như non sông đã chết. Câu thơ uất nghẹn trước thực trạng đau thương của dân tộc. Nhưng cái mạnh bạo của đấng đại trượng phu trước Đất nước như thế bắt buộc nhìn thấy sống chỉ thêm nhục. Vì vậy cái cần nhất, cái lý tưởng nhất của 1 thời hiền thánh giờ cũng chẳng còn ý nghĩa, có đọc sách cũng ngu thôi. Vậy là 2 thứ quan trọng đó nhưng mà còn tiếp diễn sống, tiếp diễn học thì chẳng khác nào đã để tự mình phó mặc cho số mệnh, để càn khôn nó tự chuyển dời, để tiếp diễn sống 1 trăm 5 đầy bất nghĩa. Có nhẽ vậy nhưng mà, cuộc đời Phan Sào Nam tuy sống toàn vẹn trong cảnh non sông lầm than, trải qua bao lần thất bại đớn đau nhưng mà ông vẫn góp sức đầy hiển hách, quang vinh. Hai câu thơ đã chứng tỏ 1 sự chuyển mình của thời đại, nếu nói ko quá lên, thật là lớn lao. Nhận ra lẽ vinh nhục trong cảnh non sông đó là thường tình, nhưng mà dám chối bỏ, phủ định cả 1 nền học vấn của 1 kẻ vốn xuất thân từ cửa Khổng, sân Trình như cụ Phan, thì đấy là 1 điều rất phi thường.Vậy chẳng thể sống như thế với thực tại, muốn mưu đồ việc xoay chuyển càn khôn phải tiến tới hành động. Và hành động đó chỉ có thể là xuất dương.Muốn vượt bể đông theo cánh gió,Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.Hai cấu kết thật đẹp! Hình ảnh mô tả có phần ước lệ biểu tượng hình thành 1 cảnh tượng biển trời, gió bão, sóng bạc thật hùng vĩ. Nó làm toát lên cái hùng tâm tráng trí của kẻ sĩ yêu nước cháy bỏng nhưng mà ở câu thơ cuối: thiên trùng bạch lãng nhất loạt phi, bản dịch chưa làm toát lên được. Đúng hơn là biển bát ngát, gió mênh mông, sóng bạc muôn trùng và ý chí, khát vọng của con người cùng nhau hòa quện làm 1 nhưng mà nhất loạt phi (cùng bay lên). Tâm té ra đi cũng bao la, nguy nga như biển trời vậy. Có cái hào sảng, cố gắng, mạnh bạo, tâm huyết lúc lên đường. Người ở lại – bằng hữu bạn hữu, cứng cáp cảm thu được khát vọng, lý tưởng trong hành động kiệt xuất của con người kiệt xuất đó.(adsbygoogle=window.adsbygoogle||[]).push({})Bài thơ khép lại trong 1 niềm hoan hỉ, hứng khởi trào dâng mãnh liệt của nhà chí sĩ cách mệnh trong buổi ra đi tìm đường cứu nước. Sự liên kết đầy mới mẻ giữa cách trình bày đậm chất thơ văn trung đại với những tư tưởng nội dung đậm hơi thở của nhịp sống đương thời đã hình tượng hóa 1 cách lãng mạn và hào hùng của người chí sĩ yêu nước những 5 đầu thế kỉ XX. Giọng thơ tâm huyết, lay chuyển này đã tiếp thêm sức mạnh, đã thổi bùng khao khát cho biết bao kẻ sĩ thời đó có mong muốn tiến hành chí mập vì sự nghiệp dân tộc của mình.Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương hay nhất – Mẫu 2Trong nền văn chương Việt Nam có những thi sĩ còn là những nhà chính trị tài 3, những người hùng cứu nước. Giả dụ chúng ta biết tới Hồ Chí Minh, 1 người ko bao giờ tự xưng là thi sĩ nhà văn nhưng mà trong giai đoạn hoạt động cách mệnh lại những vần thơ hay, Tố Hữu cũng là 1 thi sĩ cùng lúc là 1 chiến sĩ chiến đấu cách mệnh thì ta cũng chẳng thể nào ko nói đến Phan Bội Châu. Ông là 1 nhà cách mệnh hết dạ vì sự nghiệp non sông. Cũng giống như Hồ Chí Minh thì Phan Bội Châu cũng có những sáng tác văn chương nhất mực. Trong số những sáng tác của ông phải kể tới bài thơ Xuất dương lưu biệtBài thơ này được sáng tác vào cuối thế kỉ XIX, phong trào Cần Vương thất bại, thực dân Pháp chiếm toàn phần Đông Dương. Tình hình chính trị của non sông hết sức hỗn loạn. 5 1905 sau lúc thành lập hội Duy Tân, hội đã chủ trương cho Phan Bội Châu ra nước ngoài hoạt động cách mệnh. Trong bữa cơm chia tay anh em đồng đội để lên đường Phan Bội châu đã làm bài thơ này để thay lời chia tay họ. Bài thơ trình bày rất rõ ý chí làm trai và ý chí của 1 người cách mệnh.Hai câu thơ đầu trình bày rất rõ chí làm trai của Phan Bội Châu nói riêng và của thời phong kiến khái quát:“Sinh vi nam tử yếu hy kỳ,Khẳng hẹn càn khôn tự di chuyển.”(Làm trai phải lạ ở trên đờiHá để càn khôn tự chuyển dời)Nhắc đến chí làm trai hẳn người nào trong chúng ta cũng từng biết tới những quan niệm về chí làm trai của Nguyễn Công Trứ và Phạm Ngũ Lão:“Chí làm trai nam bắc tây đôngCho phỉ chí người hùng trong 4 bể”Hay“Công danh nam tử còn vương nợLuống thẹn tai nghe thuyết Vũ hầu”Và tới Phan Bội Châu lại tiếp diễn nêu lên chí làm trai thời phong kiến. Thế nhưng mà trước sự tác động cái mới của thời đại mình thi sĩ đã kế thừa những quan niệm xưa của ông cha và nêu lên những cái mới trong quan niệm chí làm trai của mình. Làm trai thì phải làm những việc lạ tức là làm những việc hiển hách phi thường. Dám làm những việc động địa kinh thiên xoay chuyển đất trời chứ chẳng thể ngồi im để mặc cho đất trời xoay chuyển mình được. Phcửa ải chăng đấy chính là khát vọng sống mãnh liệt của chàng trai đầy tâm huyết với cuộc đời. Cảm hứng đó gần gụi với những triết lý nhân sinh của đạo nho nhưng mà cũng cùng lúc mang nét táo tợn mới mẻ hơn. Con người chúng ta luôn phải chiều theo sự xoay chuyển của trời đất những tác giả ở đây lại chẳng thể để cho càn khôn tự chuyển dời được. Chính vì vậy nhưng mà thi sĩ trình bày được lý tưởng sống của 1 con người khỏe khoắn ngang tàng.Hai câu thực thi sĩ tiếp diễn đi vào làm rõ chí làm trai của mình. Càng nói ra càng thấy Phan Bội Châu quả là 1 vị người hùng tài năng và đầy khí phách:“Trong khoảng trăm 5 cần có tớSau này muôn đời há ko người nào?”Thời gian khoảng trăm 5 là 1 đời con người, tác giả khẳng định trong vòng trăm 5 đó cần có tác giả. 1 đời người hay chính là hiện nay đó phải cần có 1 người hùng với chí làm trai mạnh bạo táo tợn của thi sĩ. Ở đây ta thấy hiện ra cái tôi tư nhân biệt lập. Nhưng ở cái tôi đó ta cảm thu được cái tôi bé nhỏ, tinh thần tư nhân với nhân cách là 1 công dân với ý thức phận sự với non sông mình. Ấy tuyệt nhiên không hề cái tôi ngạo nghễ nghênh ngang. Cái tôi đó được thi sĩ xưng là “tớ” trình bày sự gần gụi. Trong trăm 5 đó 1 bậc nam nhi sống không hề để hưởng hết những lạc thú của cuộc đời nhưng mà để góp sức tài trí của mình cho non sông. Hiện tại có thi sĩ thì sau này chẳng nhẽ lại ko có người nào là người hùng thật sự. Nói như thế thi sĩ như khẳng định những bậc người hùng anh hào nước ta lẽ nào cũng có. Tác giả cũng trình bày được sự kiêu hãnh về bản thân mình. Câu thơ có bề ngoài là 1 câu nghi vấn song bản chất nó có chức năng làm nâng cấp độ ý chí muốn làm những việc mập để góp sức hết mình đất nước thân thương.(adsbygoogle=window.adsbygoogle||[]).push({})Không những thế chí làm trai còn gắn liền với vận mệnh non sông, sự vinh nhục được trình bày rất rõ:“Non sông đã mất, sống thêm nhụcHiền thánh còn đâu, học cũng hoài”Non sông đã mất trình bày cảnh tượng sơn hà rơi vào tay giặc, tất cả dân chúng phải chịu giai cấp thống trị bầy tớ của giặc, hàng ngày họ phải sống trong cảnh áp bức bóc lột. Đối với 1 bậc lang quân lúc phải sống trong cảnh nước mắt đó thì coi như đã chết rồi. Chính vì vậy nhưng mà ông đưa ra ý nghĩ bỏ sách thánh hiền. Ấy là 1 ý nghĩ táo tợn nhưng mà lại mang sự văn minh. Đối với thi sĩ thì cảnh ngộ non sông như thế ko còn học đạo vua tôi, đạo sơ chung. Bởi vì theo thi sĩ sách thánh hiền lúc đó chẳng giúp ích gì được cho cảnh nước mất nhà tan, nếu cứ bo bo ôm giữ thì chỉ là ngu nhưng mà thôi. Tuy nhiên không hề thi sĩ phủ nhân hết những ích lợi của sách thánh hiền, nếu nói như thế chẳng khác nào cha ông ta ngu lúc đọc sách đấy. Nhưng điều tác giả muốn khẳng định là lúc đó đọc sách thánh hiền ko có tác dung và không liên quan với tình cảnh non sông.Từ những ý niệm về chí làm trai lúc sống là 1 bậc lang quân trên cuộc đời, cộng với những diễn biến phức tạp của lịch sử Phan Bội Châu trình bày ước vọng và mong muốn của mình:“Muốn vượt bể Đông theo cánh gióMuôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.”Hình ảnh đó “bể đông theo cánh gió” và “muôn trùng sóng bạc” là 2 hình ảnh mang thuộc tính hào hoa lãng mạn trình bày được khao khát cao đẹp mãnh liệt của thi sĩ. Phan Bội châu muốn vượt lên thực tại ám muội của non sông để cố gắng lên đường làm nghiệp mập bảo vệ cho non sông cũng chính là bảo vệ cho sự sống còn và vinh nhục của chí làm trai. Nhà thơ muốn vượt bể Đông để theo cánh gió, cái cánh gió đó sẽ đưa ông tới những mảnh đất tân tiến ở đấy ông sẽ học tập và đem những gì mình học được về cứu non sông. Muôn trùng sóng bạc như đưa chân người người hùng đi làm chí mập.Tóm lại cả bài thơ là 1 quan niệm chí làm trai của Phan Bội Châu. Đối với ông chí làm trai đó phải làm được những điều hiển hách được ghi tên trong bảng vàng lưu danh muôn thuở. Vận mệnh của chí làm trai gắn liền với vận mệnh của non sông. Với giọng điệu hào hùng nghiêm trang, cách sử dụng từ ngữ thu hút quyến rũ bài thơ hiện lên như 1 bài ca hào hùng về chí làm trai. Nó nghe đâu tiếp sức cho Phan Bội Châu đi trên tuyến đường cứu nước.Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 3Phan Bội Châu được nói đến là người trước hết trong lịch sử Việt Nam có tinh thần dùng văn học để di chuyển, tuyên truyền cách mệnh. Ông cũng chính là người khơi dòng cho loại văn học trữ tình chính trị. Trong đấy, bài thơ ” Lưu biệt lúc xuất dương ” là 1 tác phẩm điển hình.Đây là bài thơ được viết trong bữa cơm ngày Tết nhưng mà Phan Bội Châu đã tổ chức ở nhà mình để chia tay với các bằng hữu, đồng đội trước khi lên đường sang Nhật Bản 5 1905. “Lưu biệt lúc xuất dương” đã trình bày ý nghĩ mập lao, mới mẻ đầy phận sự của tác giả, trình bày niềm hăm hở, cố gắng cao độ trong buổi đầu vượt biển đi ra nước ngoài để “mưu sự phục quốc”.Chí làm trai đã được nói đến trong văn chương từ thời xa xưa nhưng mà đặc trưng được đề cao ở thời gian cơ chế phong kiến, thời gian đạo Nho tăng trưởng mạnh bạo. Nam nhi phải có công danh, sự nghiệp thì mới đáng làm trai. Chẳng vậy nhưng mà trong bài thơ “Tỏ lòng”, Phạm Ngũ Lão đã viết: “Công danh nam tử còn vương nợLuống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”Hay Nguyễn Công Trứ cũng từng viết: “Chí làm trai nam, bắc, tây, đôngCho phỉ sức tung hoành trong 4 bể”.Muốn biến thành bậc đại trượng phu được mọi người xác nhận thì phải biết cố gắng, lập được công tích, có được danh vọng, có sức vóc “tung hoành” khắp 4 bể để chứng minh tài năng, khả năng của bản thân. Kế thừa tư tưởng đó của Nho giáo, Phan Bội Châu đã đưa ra 1 ý kiến về chí làm trai như 1 tuyên ngôn đầy khí thế: “Sinh vi nam tử yếu hi kỳ,Khẳng hẹn càn khôn tự di chuyển”.Trước hết, ông cho rằng, làm trai phải “lạ”, có tức là phải sống khác mọi người, ko được giống với bất kì người nào để hình thành điểm biệt lập. “Lạ” cũng có tức là điều phi thường, hiển hách, xoay chuyển cả trời đất. Ấy là lối sống chủ động, ko chùn bước, nản lòng để mặc cho tình cảnh chi phối nhưng mà phải có khả năng để chi phối tình cảnh. Nhân vật trữ tình dám đương đầu với càn khôn, đất trời, vũ trụ để tự khẳng định bản thân, cố gắng đạt được giấc mộng công danh. Phan Bội Châu ấp ôm khát vọng xoay chuyển được càn khôn chứ ko để “càn khôn tự chuyển dời”. Ông ko đầu hàng, khuất phục trước số mệnh, tình cảnh nhưng mà dùng chính bản lĩnh của mình để chỉnh sửa tình cảnh. Có thể nói, chí làm trai của ông là chí làm trai của 1 đấng đại trượng phu hiên ngang trong vũ trụ, dám ngão nghệ và thử thách với trời đất.Con người mang tầm vóc mập lao, tầm vóc vũ trụ đó luôn mang trong mình tinh thần, phận sự của tư nhân trước thời cục: “Ư bách niên trung tu hữu ngã,Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy”Trong cuộc đời trăm 5 hữu hạn, Phan Bội Châu muốn góp sức sức mình cho non sông, làm nên những công tích phi thường, mập lao để xứng đáng làm 1 đại trượng phu lưu danh vào thiên cổ nghìn 5. Tác giả đã tự khẳng định bản thân mình, đây là cái tôi mang đầy phận sự, chủ động hăng hái chứ không hề cái tôi vị kỉ, chỉ biết lo nghĩ cho ích lợi của tư nhân. Ở 2 câu thực có sự đối nhau hài hòa giữa sự vô bờ của thời kì và sự hữu hạn của đời người, Phan Bội Châu dùng cái phủ định để làm nền, làm nổi trội lên điều ông khẳng định. Ông muốn làm những điều phi thường, lưu lại danh tiếng của mình trong sử sách để ko hổ hang với chí làm trai nhưng mà mình đã lấy làm lí tưởng sống. Hiến dâng cho đời vừa là trách nhiệm vừa là phận sự của bậc lang quân. Trong 1 trăm 5 hữu hạn đó, người đại trượng phu phải tiến hành được chí làm trai và cũng trong nghìn 5 sau đấy phải để lại được tiếng thơm cho đời. Hai câu thơ như lời giục giã khơi dậy ý thức lao vào vì nghĩa mập của con người, đặc trưng là những thanh niên trai tráng phải góp vô cùng mình vào công cuộc cứu nước, tìm ra hướng đi mới cho dân tộc.(adsbygoogle=window.adsbygoogle||[]).push({})Gắn với tình cảnh thực tại của non sông, Phan Bội Châu đã nêu lên phận sự nhưng mà người đại trượng phu cần có đối với vận mệnh dân tộc: “Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế,Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si “Quốc gia bị xâm lăng, quốc gia cũng ko còn nữa thì ta có sống cũng chỉ chuốc lấy sự điếm nhục, ê chề. Sách vở, người có học vấn cũng biến thành bất nghĩa lúc chủ quyền non sông bị xâm phạm. Nhiệm vụ giải phóng dân tộc được ông đặt lên bậc nhất bởi ông tinh thần được thời cục. Sách vở cũng ko có ý nghĩa gì lúc nước mất nhà tan. Việc làm quan trọng và thiết thực nhất khi bấy giờ là tìm được tuyến đường, hướng đi cho non sông để thoát khỏi sự xâm lăng, bóc lột của thực dân Pháp. Phan Bội Châu là 1 người tình nước và ông cũng mong rằng phong trào Đông du do mình chỉ huy sẽ gặt hái được nhiều thành tựu giúp ích cho sơn hà. Kế bên đấy, 2 câu luận cũng có ý nghĩa thức tỉnh những con người có tấm lòng yêu nước. Đây cũng là khi để họ xoay chuyển càn khôn, xoay chuyển cục diện, tình hình của dân tộc.Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 4Phan Bội Châu (1867-1940), ôi cái tên đẹp 1 thời. “Chúng ta có thể nói rằng trong lịch sử giải phóng dân tộc của dân chúng Việt Nam, trước Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phan Bội Châu là 1 đối tượng lớn lao” (Tôn Quang Phiệt). Phan Bội Châu là vong linh của các phong trào di chuyển giải phóng Đất nước khoảng 25 5 đầu thế kỉ XX. Danh tiếng ông gắn liền với các tổ chức yêu nước như Hội Duy Tân, phong trào Đông du, Việt Nam Quang Phục Hội. Danh tiếng Phan Bội Châu gắn liền với hàng trăm bài thơ, hàng chục cuốn sách, 1 số bài văn tế và vài 3 vở tuồng tràn đầy tình yêu nước. “Phan Bội Châu câu thơ dậy sóng” (Tố Hữu).5 1900, Phan Bội Châu đậu hương nguyên khoa thi Hương trường Nghệ 5 1904 ông sáng lập ra Hội Duy Tân, 1 tổ chức yêu nước. 5 1905 ông dấy lên phong trào Đông du. Theo chủ trương của Duy Tân hội do chính ông sáng lập, ông khởi đầu sang Nhật để tìm đường cứu nước. Bài thơ “Xuất dương lưu biệt” ông làm tặng các đồng đội trong buổi đầu lên đường. Có thể nói bài thơ này như 1 mốc son chói lọi trong sư nghiệp giải phóng dân tộc của nhà chí sĩ Phan Bội Châu.“Xuất dương lưu biệt” được viết bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, là khúc ca bộc lộ tư thế, cố gắng hăm hở, và những ý tưởng cao cả mới mẻ của chí sĩ Phan Bội Châu trong buổi đầu xuất dương cứu nước.Hai câu để là 1 tuyên ngôn về chí hướng, về lẽ sống cao cả: “Sinh vi nam tử yếu hi kìKhẳng hẹn càn khôn tự di chuyển”Kiêu hãnh mình là đấng đại trượng phu thì phải sống cho ra sống, mong muốn làm nên “điều lạ” (yêu hi kì). Suy rộng ra, là chẳng thể sống bình thường. Không thể sống 1 cách tiêu cực cho trời đất (càn khôn) “tự chuyển dời” 1 cách vô vị, nhạt nhẽo. Câu thơ trình bày 1 tư thế, 1 tâm thế đẹp về chí đại trượng phu, tự tin ở chừng độ, tài năng của mình muốn làm nên sự nghiệp bự mập, xoay chuyển trời đất, như ông đã nói rõ trong 1 bài thơ khác: “Dang tay ôm chặt bồ kinh tế,Mở mồm cười tan cuộc ân oán thù”.Gắn câu thơ với sự nghiệp cách mạnh hết sức sôi nổi của Phan Bội Châu, ta mới cảm thu được cái khẩu khí người hùng của nhà chí sĩ lớn lao. Đấng đại trượng phu muốn làm nên “điều lạ” ở trên đời, từng nấu nung và tâm niệm theo 1 vần thơ cổ: “Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch,Lập thân tối hạ thị văn học ”(“Tùy viên thi thoại” – Viên Mai)Đấng đại trượng phu muốn làm nên “điều lạ” ở trên đời đó có 1 “bầu máu hot” sục sôi: “Tôi được trời phú cho bầu máu hot cũng ko tới nỗi ít, khi còn nhỏ đọc sách của cha tôi, mỗi lúc đèn những chỗ nói người xưa chịu thuế để thành đạo nhân, nước mắt lại tầm tã bé xuống ướt đầm cả giấy…” (Ngục trung thư).Phần thực, ý thơ được mở mang, tác giả tự khẳng định vai trò của mình trong xã hội và trong lịch sử: “Ư bách niên trung tu hữu ngãKhởi thiên tải hậu cánh vô thùy”“Ngã” là ta: “tu hữu ngã” tức là phải có ta trong cuộc đời “1 trăm 5 ” (bách niên trung). Câu thơ khẳng định, bộc lộ niềm kiêu hãnh mập lao của kẻ sĩ trong cảnh nước mất nhà tan. “Thiên tải hậu” ngàn 5 sau, là lịch sử của non sông và dân tộc há lại ko có người nào (để lại danh tiếng) ư? Hai câu 3, 4 đối nhau, lấy cái phủ định để làm nổi trội điều khẳng định. Ấy là 1 ý thơ thâm thúy trình bày vai trò tư nhân trong lịch sử: chuẩn bị đảm trách mọi phận sự nhưng mà lịch sử phó thác. Ý nghĩ xinh xắn này là sự kế thừa những tư tưởng lớn lao của các vĩ nhân trong lịch sử: “… Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, ngàn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng”. (“Hịch tướng sĩ’ – Trần Quốc Tuấn) “… Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh”.(Văn Thiên Tường)Lấy cái hữu hạn “bách niên” của 1 đời người đối với cái vô bờ “thiên tải” của lịch sử dân tộc. Phan Bội Châu đã hình thành 1 giọng thơ đĩnh đạc, hào hùng, bộc lộ 1 cố gắng và khát vọng trong buổi lên đường. Vì vậy, trên bước đường cách mệnh giải phóng dân tộc, trải qua vô vàn thách thức và gian nguy, ông vẫn quật cường, sáng sủa.Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 5Phan Bội Châu nhà yêu nước, người hùng giải phóng dân tộc lừng danh trong lịch sử đương đại Việt Nam, Phan Bội Châu chính là người chủ xướng các phong trào giải phóng Đất nước trong những 5 đầu thế kỉ XX như Hội Duy Tân, phong trào Đông du, Việt Nam Quang Phục Hội. Danh tiếng của ông cũng lừng danh với nhiều bài thơ, cuốn sách, bài văn tế…Phan Bội Châu luôn mang trong mình lý tưởng, khát vọng giải phóng dân tộc và xây dựng non sông dân chủ văn minh.“Lưu biệt lúc xuất dương” được viết bằng chữ Hán, thể thất ngôn bát cú Đường luật, bài thơ trình bày vẻ đẹp lãng mạn, hào hùng trong đầu thế kỉ XX : táo tợn, tâm huyết lý tưởng giải phóng dân tộc luôn dâng cao. Ông đã cho người đọc thấy được ko khí cách mệnh sôi sục quá trình đầu thế kỉ XX của những con người tình nước và văn minh của sơn hà.Mở màn bài thơ như là 1 tuyên ngôn lí tưởng: “Sinh vi nam tử yếu hi kì,Khẳng hẹn càn khôn tự di chuyển.”Làm trai trong trời đất chẳng thể sống bình thường, ko được sống tiêu cực cho trời đất “tự chuyển dời”. Câu thơ bắt đầu đã trình bày tư thế, ý chí đại trượng phu, tài năng của người cách mệnh mong muốn làm nên sự nghiệp mập, xoay chuyển trời đất.Tiếp tục bài thơ tác giả khẳng định: Ư bách niên trung tu hữu ngã,Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy.Tác giả đã khẳng định mạnh bạo và đầy khí phách về sức mạnh con người trước càn khôn. Sự đề cao cái Tôi của thi sĩ chính là khẳng định phận sự của người thanh niên yêu nước đối với vận mệnh dân tộc. Câu thơ cũng khiến cho nhiều người giác ngộ và khêu gợi sự ý thức chiến đấu. Tác giả Phan Bội Châu như muốn ra công kêu gọi sự đấu tranh của những con người tình nước.Những đoạn thơ trước hết tác giả đã khẳng định chí đại trượng phu, đoạn sau nói về phận sự của đại trượng phu: Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế,Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc siKhi non sông đang bị xâm chiếm, quốc gia đã chết, ta sống chỉ thêm sự điếm nhục, đớn đau. Trong tình cảnh nước mất nhà tan, người học có vùi mài kinh sử cũng trở thành bất nghĩa. Vào thời khắc đấy, ý muốn ra đi tìm đường cứu nước là lí tưởng của thời đại. Câu thơ trên ko có ý chê bai việc học nhưng mà chỉ có ý khuyên con người ta phải sống với thời cục trước mắt. Câu thơ trên còn trình bày nỗi đau của tác giả trong khi non sông suy vong, nhân dân lầm than, đạo đức xã hội xuống cấp đã khiến con người có phận sự với dân tộc trông thấy nhưng mà lòng quặn đau.(adsbygoogle=window.adsbygoogle||[]).push({})Đoạn kết của bài thơ Lưu biệt lúc xuất dương đã trình bày cố gắng, ý chí , hi vọng mập của tác giả trên tuyến đường mình đã chọn: Nguyện trục trường phong Đông hải khứ,Thiên trùng bạch lãng nhất loạt phi.Giọng thơ sôi sục, ngập tràn hi vọng và cố gắng đi tới nước Nhật để tìm tuyến đường cứu nước. Hình ảnh chấm dứt bài thơ hết sức mạnh bạo, hào hùng, đấy là sự khí phách của con người bắt kịp với thời đại mới. Với hi vọng về tương lai tươi sáng hơn.Bài thơ giọng điệu hào hùng, từ ngữ thu hút là 1 bài ca hào hùng về chí làm trai nguyện lao vào mình vào sự nghiệp cứu nước của dân tộc. Bài thơ mãi là tấm gương nhưng mà thiên hạ luôn noi theo.Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 6Năm 1858 thực dân Pháp xâm lăng Việt Nam chúng thi hành cơ chế bóc lột sức lao động, đàn áp các cuộc chiến đấu của dân chúng ta trong bể máu, làm cho lòng dân hết sức căm thù. Chính điều đấy đã thôi thúc các nhà yêu nước nấu nung tuyến đường giải phóng dân tộc. Tiêu biểu trong thời gian đầu là Phan Bội Châu Ông vừa là nhà cách mệnh yêu nước cùng lúc là 1 nhà văn hóa mập. Ông để lại nhiều trứ tác trên nhiều lĩnh vực trong đấy thi ca chiếm 1 nội dung quan trọng. Nổi trội trong thơ của Phan Bội Châu là bài “Lưu biệt lúc xuất dương”. Bài thơ đã lưu lại tình cảm, xúc cảm của tác giả khi từ giã trước lúc sang Nhật cùng lúc trình bày ý thức, ý chí cố gắng cứu nước của người chiến sĩ cách mệnh.“Lưu biệt lúc xuất dương” được Phan Bội Châu sáng tác lúc khát vọng cứu nước đang tiến hành 1 cách thuận tiện, hội Duy Tân vừa mới được thành lập lúc đấy ông chủ trương đưa 1 số thanh niên Việt Nam có ý chí, ý thức ham học hỏi sang Nhật học thực tập tân tiến, khoa học của họ để về giúp nước giúp dân. Đây là 1 tư tưởng văn minh nhưng mà lịch sử lại ko tuyển lựa do còn phạm phải những sai trái, không những thế điều đấy đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm cho dân tộc.Bài thơ được viết bằng chữ Hán theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật với bố cục rõ ràng, mạch lạc theo cấu trúc đề-thực-luận-kết trình bày được cái “chí” của thi sĩ. Hai câu thơ đầu là quan niệm mới mẻ về chí làm trai và tư thế, tâm thế, tầm vóc của con người trong vũ trụ. “Sinh vi nam tử yếu hi kìKhẳng hẹn càn khôn tự di chuyển”Chí làm trai của đấng đại trượng phu phải có khát vọng, hoài bão mập lao, phải làm được việc hiếm việc lạ ở trên đời. Tư tưởng này đã được kế thừa của các tiền nhân như Phạm Ngũ Lão trong bài thơ “Thuật hoài” có viết: “Nam nhi vị liễu công danh trái/ Tu thính trần gian thuyết Vũ hầu”. Chính vì cái lẽ đó nhưng mà ko chịu để cho trời đất tự chuyển dời trình bày tầm vóc mập lao của con người trong vũ trụ rộng lớn như tư thế “hoành sóc” (cầm ngang ngọn giáo) hiên ngang của người nam tử. Gắn với bối cảnh của thời đại, thực tiễn của non sông khi bấy giờ chí làm trai theo Phan Bội Châu phải xoay chuyển được “càn khôn” chủ động lập lại thời thế ko chịu bằng lòng nỗi nhục mất nước, ko chịu làm bầy tớ.Giả dụ 2 câu thơ đầu là tuyên ngôn về chí làm trai với tư tưởng muốn bứt phá ra khỏi giới hạn nhỏ mọn của bản thân, mong muốn cứu nguy cho dân tộc cùng lúc khẳng định vị thế của mình trong trời đất thì 2 câu thực nói về tinh thần phận sự của tư nhân trước thời cục. “Ư bách niên trung tu hữu ngãKhởi thiên tải hậu cánh vô thùy”Trong câu 3 đối với câu 4 lấy cái hữu hạn của “bách niên” để đối với cái vô bờ của “thiên tải”, lấy cái phủ định để khẳng định ý chí cố gắng của tác giả cho thấy vai trò, sự chủ động của tư nhân trước bối cảnh lịch sử. Ở trong vòng trăm 5 (trong vòng thời kì của đời người) cần phải có phải có ta. Ta phải làm việc mập, đảm trách việc đời của thời đại mình thì trăm 5 sau mới có lứa tuổi khác. Nếu ko sau này “hát ko người nào?”đây là 1 câu nghi vấn, hỏi nhưng mà cũng là để tự mình giải đáp, tự mình trình bày mình. Điều đấy cho thấy ý thức tự nhiệm, tự mình của tác giả cùng lúc cũng khẳng định sự nối liền lứa tuổi người hùng của dân tộc “Tuy mạnh yếu từng khi không giống nhau/ Song anh hào thời nào cũng có”.Để minh chứng cho tuyến đường cứu nước của mình là đúng mực ở 2 câu luận tác giả nêu lên cảnh ngộ của non sông và chỉ ra những điều xưa cũ ko còn thích hợp với thời đại mới. “Giang sơn tử hĩ sinh đồ huếHiền thánh liêu nhiên tụng diệc si”“Non sông đã chết” dân tộc đã bị xâm chiếm, non sông đã mất chủ quyền sống cũng chỉ thêm điếm nhục. Câu này tác giả nhắc đến lẽ sống và cái chết để khẳng định lí tưởng sống có tức là phải lật lại “càn khôn”, lấy lại hồn nước, khiến cho dân tộc được độc lập tự do. “Hiền thánh”ở đây chỉ Nho học. Nó đã ko còn nữa, phải gác nó lại theo học cái học thực tiễn để cải cách non sông. Có người nói Phan Bội Châu phủ nhận vai trò của Nho giáo, điều này là ko đúng bởi ông cũng xuất thân nơi “Cửa Khổng sân Trình” nhưng mà bối cảnh thời đại hiện thời Nho giáo trở thành lỗi thời, lạc hậu cần chỉnh sửa. Chữ “hoài” trong bản dịch thơ chưa trình bày được thực chất “si” (U mê, mê muội 1 điều gì đấy mất lí trí) trong nguyên tác. Hai câu thơ là lời nhắn nhủ của tác giả tới lứa tuổi trẻ phải đổi mới quan niệm, tư tưởng ko nên theo lối mòn, sáo rỗng ko có lợi cho sự nghiệp cứu nước.Hai cấu kết trình bày khát vọng hành động cứu nước, khắc họa tư thế hiên ngang, hào hùng của con đứa ở buổi lên đường: “Nguyện trục trường phong Đông hải khứThiên trùng bạch lãng nhất loạt phi”Ở câu thơ thứ nhất mang 2 nét nghĩa trừu tượng và chi tiết. Với nét nghĩa trừu tượng trình bày mong muốn vượt lên chính mình, vượt qua giới hạn bản thân làm nên việc lạ ở trong vòng trăm 5. Với nét nghĩa chi tiết để chỉ phong trào Đông Du, chỉ những người thanh niên yêu nước mong muốn học tập cái mới để giúp nước. Tuy nhiên bản dịch thơ trong sách giáo khoa từ “Cánh gió” chưa lột tả được khí sắc của “trường phong” là cơn gió mập, cơn gió dài nó là sự cố gắng, quyết liệt ra đi cứu nước của tác giả. Câu cuối “nhất loạt phi” là cùng bay lên ở đây là chỉ con sống hay chỉ khát vọng của tác giả hay chỉ cả 2 khát vọng của ta cộng với hàng nghìn con sóng cùng bay lên giữa biển khơi bao la. Theo em cách hiểu thứ 3 là có lí vì tác giả “xuất dương” mang trong mình hoài bão mập lao. Hai cấu kết với 2 hình ảnh kì vĩ “trường phong” và “thiên trùng bạch lãng”khiến cho chí khí, tư thế của người chiến sĩ vượt lên thực tại ám muội với đôi cánh của lí tưởng cách mệnh vươn ngang tầm vũ trụ được trình bày qua vị ngữ “nguyện trục”, “nhất loạt phi” khiến ta liên tưởng tới 2 câu thơ trong “Hành lộ nan” (Đi đường khó) của Lí Bạch: “Trường phong phá lãng hội hữu thì/ Trực quải vân phàm tế thượng hải” (Cưỡi gió vượt sóng ắt có khi/ Dòng thẳng buồm mây vút bể xanh).“Lưu biệt lúc xuất dương” trình bày được lí tưởng cứu nước cao cả, tâm huyết sôi sục với tư thế xinh xắn và khát vọng lên đường cháy bỏng của người chiến sĩ cách mệnh trong buổi đầu cứu nước. Về nghệ thuật bài thơ được tuân theo luật bằng, đúng niêm, đúng luật của thể thơ đã được quy ước, không những thế có nét cải cách đổi mới điều đấy được trình bày ở đại từ “Ngã” (ta). Ở trong thơ trung đại cái tôi tư nhân bị lu mờ, ít thấy tác giả hiện ra trực tiếp do người trung đại ko coi mình là trung tâm nhưng mà chỉ là 1 bộ phận trong chỉnh thể mập.Nhưng ở đây tác giả đã tự tin trình bày khả năng, chí hướng, khát vọng, cố gắng của con người trong thời đại mới. Sử dụng tiếng nói cường điệu với hình ảnh kì vĩ, lãng mạn trình bày được cái chí của mình.Vần thơ đã khép lại xưa nay nay nhưng mà hồn thơ, khí sắc của bài thơ cộng với hình ảnh của 1 Phan Bội Châu cố gắng, hăm hở, chủ động ra đi tìm đường cứu nước đã để lại tiếng vang, tác động sâu rộng trong lịch sử. Phan Bội Châu chẳng những về sự nghiệp di chuyển giải phóng dân tộc là 1 đối tượng điển hình cho quá trình chống Pháp của dân chúng Việt Nam đầu thế kỉ XX nhưng mà còn là thi sĩ, nhà văn với những đóng góp có trị giá cho nền văn chương sơn hà.Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 7Phan Bội Châu là 1 nhà văn hóa mập, 1 nhà chính trị, “1 đối tượng lớn lao”, có nhiều hoạt động văn minh đầu thế kỷ XX, ông được biết tới với vai trò là vị lãnh tụ điển hình nhất trong các phong trào chiến đấu giải phóng dân tộc đầu thế kỷ trước. Đặc thù nổi trội với tư tưởng giải phóng dân tộc theo tuyến đường của các nước tư bản chủ nghĩa, mặc dầu sau đấy thất bại nhưng mà cũng đã mở ra 1 cách nhìn mới về việc làm cách mệnh cho lứa tuổi đi sau trong đấy có Hồ Chí Minh. Nhìn chung ở đời cách mệnh, cũng như giai đoạn hoạt động cách mệnh ở Phan Bội Châu có sự liên kết lạ mắt và vang dội giữa 2 bình diện chính trị và văn hóa, điều đấy gần giống như Nguyễn Trãi hơn 400 5 về trước và Hồ Chí Minh của vài 5 sau đấy. Ngoài sự nghiệp chính trị nổi trội, thì Phan bội Châu cũng có 1 sự nghiệp văn học khá khổng lồ, ông có thể được xem là người đã mở đường cho nền văn chương cách mệnh Việt Nam với chất chính trị và trữ tình liên kết chặt chẽ ăn rơ trong nhiều tác phẩm. Lưu biệt lúc xuất dương chính là 1 tác phẩm mang đầy đủ cá tính sáng tác đó của Phan Bội Châu, cộng với tình cảnh có mặt trên thị trường đặc trưng gắn liền với sự chuyển biến trong tư tưởng cách mệnh của Phan Bội Châu.Sở dĩ nói Lưu biệt lúc xuất dương là bài thơ gắn liền với sự chuyển biến trong tư tưởng cách mệnh của Phan Bội Châu, bởi bài thơ được sáng tác vào 5 1905, trước ngày ông lên tàu cùng 1 số thanh niên ưu tú khác sang Nhật tìm đường cứu nước. Bài thơ là sự khích lệ, cổ vũ cổ vũ ý thức đầy hào khí dành cho những con người mang tư tưởng, tráng chí tốt đẹp ra đi vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, dẫu biết có nhiều gian truân trắc trở. Cũng lại là 1 tác phẩm gợi mở, hướng những con đứa ở lại, hướng dân chúng ta về 1 niềm tin rằng nay mai non sông sẽ tốt đẹp hơn, tươi sáng hơn, biểu thị nhưng mà ý chí, cố gắng, tư tưởng văn minh của 1 nhà nho yêu nước, 1 vị lãnh tụ hết dạ vì dân tộc.(adsbygoogle=window.adsbygoogle||[]).push({})Như Nguyễn Ái Quốc đã viết trong tác phẩm chính luận Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu của những lời tán tụng dành cho cụ Phan đầy thâm thúy và trân trọng rằng: “1 bậc người hùng, 1 vị thiên sứ được 2 mươi triệu đồng bào trong khoảng bầy tớ tôn kính”. Điều đấy đủ để thấy rằng ở Phan Bội Châu là tụ hội những vẻ đẹp quý giá của 1 tư cách mập, 1 tư tưởng mập hòa quyện giữa ý thức của 1 nhà nho và 1 chí sĩ cách mệnh theo thiên hướng tư bản (thậm chí còn có tí đỉnh thiên hướng chủ nghĩa xã hội). Trong Lưu biệt lúc xuất dương, vẻ đẹp tư cách, tư tưởng của Phan Bội Châu biểu thị từ 2 câu thơ đầu, nhưng mà có thể đặt cho nó cái tên là chí làm trai trong thời đại mới. “Làm trai phải lạ ở trên đờiHá để càn khôn tự chuyển dời”Cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX trong lịch sử sơn hà là 1 quá trình đầy bất định dữ dội, tháng 1/8/1958, Pháp nổ phát súng trước hết chính thức xâm lăng nước ta lần thứ nhất, khi mà đấy triều đình nhà Nguyễn hèn yếu, cơ chế phong kiến thối nát, có nguy cơ sụp đổ, ko đủ sức để đứng lên chỉ huy dân chúng chống giặc ngoại xâm như các lứa tuổi ông cha đi trước. Các nhà nho yêu nước, thương dân nhưng mà bất lực trước thời cục, thất vọng nên tìm cách thoái ẩn, lẩn tránh cuộc đời. Chỉ riêng Phan Bội Châu, là 1 trong số ít các nhà nho có nhiều hoạt động sôi nổi trong các phong trào nổi dậy chống ngoại xâm. Bởi cụ Phan có 1 tư cách văn hóa mập, người tiếp thu các thiên hướng chính trị 1 cách nhiều chủng loại, nhiều chiều, là người trực tiếp tham dự các phong trào Cần Vương và 1 số phong trào khởi nghĩa truyền thống, Phan Bội Châu tuy là 1 nhà nho chính thống, nhưng mà lại sớm nhìn thấy những yếu điểm và sự lạc hậu của các phong trào này. Phan Bội Châu nhận thấy thiết yếu 1 sự canh tân mới, 1 tuyến đường mới cho cách mệnh Việt Nam, người coi xét cơ chế quân chủ lập hiến, rồi rốt cuộc quyết định giải phóng dân tộc theo tuyến đường nhưng mà các nước tư bản chủ nghĩa đã làm và rất thành công điển hình đấy là Nhật Bản. Từ đấy phong trào Đông Du có mặt trên thị trường, với 1 kì vọng cải biến được tình hình hỗn loạn như rắn mất đầu của các phong trào khởi nghĩa lẻ tẻ trong nước. Phan Bội Châu có thể xem là 1 vị người hùng biết thời biết thế, với ông trong 1 bối cảnh mới thì tư cách của nhà nho vẫn phải giữ, nhưng mà phải cải biến làm sao cho ko bị lỗi thời, nhưng mà phải đồng nhất, đuổi kịp với thời cục. Trong đấy chí đại trượng phu là điều cốt tử của 1 nhà nho yêu nước. Phan Bội Châu quan niệm “Làm trai phải lạ ở trên đời”, chữ “lạ” ở đây nghĩa là thân đại trượng phu chí ở 4 phương, phải tạo cho mình sự dị biệt, nổi trội hẳn lên ở các bình diện sự nghiệp, tư tưởng, mang trong mình những khao khát, hoài bão cao đẹp và cố gắng hết mình tiến hành chúng. Đã là nam nhân thì ko cam chịu 1 cuộc sống phổ biến, an ổn, quẩn quanh bên cái ao, nắm thóc, con gà, vừa lòng với cuộc sống điền viên nữ nhi thường tình nhưng mà phải cố gắng gây dựng sự nghiệp mập, công danh mập. Nếu như thuở trước người trai mài miệt đèn sách, quyết thi cử lấy công danh làm rạng rỡ tổ tiên hoặc là tòng quân chinh chiến sa trường, bảo vệ biên thuỳ, để trả mối nợ nước. Thì nay trong thời đại đầy bất định, người đại trượng phu lại thiết yếu ý chí, chỉnh sửa tư tưởng của bản thân để trả món nợ công danh cho non sông, chứ không hề bất lực, lẩn tránh như nhiều nhà nho đương thời, vì sự câu chấp, thủ cựu lỗi thời ôm bo bo quan niệm Nho học đã lạc hậu để khóc than, xót thương. Quan niệm chí làm trai đó của Phan Bội Châu lại càng được biểu thị rõ trong câu thơ tiếp theo “Há để càn khôn tự chuyển dời”. Câu thơ đó đã biểu thị sự mạnh bạo, ý chí quả quyết, thử thách cả vũ trụ, trình bày tầm vóc bự mập của thi sĩ trước cán cân tạo hóa, Phan Bội Châu khẳng định vận mệnh của bản thân phải do chính bản thân mình nắm giữ, cùng lúc ý thơ còn chỉ ra tráng chí, lý tưởng chỉnh sửa “càn khôn” của tác giả. Nhưng thực tiễn “càn khôn” ở đây chung quy vẫn là chỉ tới sự bất định của thời cục, giặc Pháp xâm lăng và cơ chế phong kiến đổ nát, khiến non sông lầm than, nhiễu loạn. Phan Bội Châu ko can tâm, ko đành lòng trông thấy cảnh đau thương đó, người phải làm gì đấy cho Đất nước, cho dân tộc chứ không hề là đứng yên bất lực hay rơi lệ xót thương. “Trong khoảng trăm 5 cần có tớSau này muôn đời há ko người nào”Tới 2 câu thơ tiếp theo chính là tinh thần của tác giả về vai trò của bản thân lúc đứng trước thời cục, trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng non sông. “Khoảng trăm 5” là 1 cụm từ rất hay mang nhiều lớp nghĩa không giống nhau, trước là để ám chỉ về khoảng thời kì đầy bất định của non sông quá trình cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, lúc giặc Pháp xâm lăng, triều đình bất lực, cộng với sự nổ ra lẻ tẻ và sự thất bại của các phong trào khởi nghĩa truyền thống. Ấy là khoảng thời kì khủng hoảng nhất trong lịch sử dân tộc diễn ra từ lúc non sông giành được quyền độc lập tự chủ từ tay giặc phương Bắc 5 938. Bản thân Phan Bội Châu sinh ra đúng khi non sông đầy đau thương, thế nên với nhân cách là 1 bậc nam nhi, ông tự tinh thần được phận sự của mình dành cho non sông. Tạo hóa đã đặt con người ta vào nghịch cảnh, cuộc đời vốn chỉ có trăm 5 thì cần sống sao cho ra phết “đại trượng phu” để ko uổng công sắp xếp của tạo hóa. Ý của Phan Bội Châu chính là tương tự. Và cụ Phan cũng ko chỉ nói riêng hay đặt ra hy vọng, lý tưởng cứu quốc, kiến lập công danh cho chính bản thân mình, nhưng mà với ông “khoảng trăm 5” này nó vừa là thời cơ cũng vừa là thử thách cho tất cả những đấng đại trượng phu trong người đời. Ông có 1 niềm kì vọng rất mập vào các lứa tuổi tương lai, câu hỏi ngỏ đó chính là lời cổ vũ, cổ vũ thâm thúy tới nhiều lứa tuổi thanh niên trong nước, khuyến khích họ tự tạo lập 1 lý tưởng cao đẹp, mạnh bạo xông pha để trả mối nợ công danh cho non nước, cho dân tộc. Phan Bội Châu đã bước những bước đi trước hết đầy gian nan, nhưng mà ngập tràn tráng chí cố gắng và kì vọng về 1 ngày mai khởi sắc, vực dậy non sông, nhưng mà sau trăm 5 của ông, người nào sẽ là người tiếp diễn tuyến đường đó, Phan Bội Châu cần những người cộng sự, những người nối tiếp, để biến lý tưởng cách mệnh đó thành sự thực. “Non sông đã mất sống thêm nhụcHiền thánh còn đâu học cũng hoài”Tới 2 câu thơ luận, người ta mới lại càng thấy được tư cách văn hóa cao đẹp của Phan Bội Châu, chứng minh cho đánh giá rằng cụ Phan là 1 nhà nho văn minh, 1 nhà văn hóa có tiếp cận đa chiều, đa diện, sự cải cách và bắt kịp xu hướng của thời đại đầu thế kỷ XX. Như đã nói qua, các phong trào yêu nước truyền thống thất bại thảm hại nhưng mà đặc trưng là phong trào Cần Vương khiến các nhà nho yêu nước nhụt chí và tuyệt vọng, thì ngược lại Phan Bội Châu lại bước ra từ chính đống đổ nát đó, rút kinh nghiệm tiếp nhận nền văn hóa tư bản và biến thành người đi đầu cứu nước theo tuyến đường tư bản chủ nghĩa. Ấy là 1 bứt phá mập. Cụ nhận thức rất rõ hiện trạng của non sông “quốc gia đã chết” đấy là cái chết của 1 cơ chế, 1 triều đại phong kiến vốn dĩ đã suy sụp từ hàng trăm 5 nay, trong khi cả vua lẫn quan người nào nấy đều hèn hạ, sợ sệt chỉ ham vinh hoa phú quý nhưng mà bằng lòng để đối phương giày xéo non sông. 1 non sông ko có chủ quyền, ko có tự do, và 1 bộ máy bù nhìn thì chẳng hề đã “chết” hay sao. Và với 1 nhà nho yêu nước, 1 con người thẳng thắn sự khom mình đó của triều đình, sự đau đớn của dân tộc, sự ngang tàn của bọn thực dân quả thật là 1 nỗi điếm nhục khôn xiết. “Hiền thánh còn đâu học cũng hoài”, chính là nhận thức của Phan Bội Châu về sự lạc hậu và lỗi thời của nền Nho học. Bằng tư duy khoáng đạt, sự lỗi lạc của mình, ông nhìn thấy trong giờ khắc này Tam tự kinh, Luận ngữ hay các triết lý Nho học chẳng thể đấu lại với súng đạn của đối phương, chẳng thể vực dậy non sông bằng lối tư duy cứng nhắc, thiếu linh động đó nữa. Với nhân cách là 1 nhà nho chính thống, chịu tác động thâm thúy của Nho giáo, đấy là 1 nhận thức hết sức phũ phàng và đớn đau. Nhưng ko chìm đắm trong bất lực, thất vọng như nhiều nhà nho đương thời, Phan Bội Châu đã chuẩn bị từ bỏ những gì mình gắn bó bao lăm 5 trời để tiến tới với 1 tư tưởng mới, đặt những bước đi trước hết trên tuyến đường cứu nước theo thiên hướng tư bản. Thậm chí về sau này, Phan Bội Châu sau lúc bị giam lỏng ở Huế, sau thất bại với phong trào Đông Du, cụ lại cũng nhận thức và có những nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội qua tư tưởng Mác Lê-nin. “Muốn vượt bể Đông theo cánh gióMuôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi”Sau những câu thơ mang đậm thuộc tính chính trị, lý tưởng cao đẹp thì tới 2 câu thơ cuối chất trữ tình lãng mạn cách mệnh trong thơ của tác giả được trình bày khá rõ. “Muốn vượt bể Đông theo cánh gió” chính là trình bày khát vọng lý tưởng của tác giả lúc tới 1 vùng đất mới với kì vọng học hỏi được những tri thức hữu ích mang về phụng sự cho non sông, giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ, lầm than. Ở đấy tầm vóc, tráng chí của người người hùng được trình bày 1 cách bay bổng và khoáng đạt, biểu thị sự tự do, thú vui sướng, hoài bão bự mập nhưng mà Phan Bội Châu ấp ôm lúc lên đường sang Nhật. Cảnh tượng “Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi”, đem lại cho người đọc quang cảnh kỳ vĩ của tự nhiên trong ngày người chí sĩ ra đi, trình bày tầm vóc mập lao, tâm hồn cao đẹp, tự hào, hùng tráng của người ra đi nổi trội hẳn lên trên cái nền sóng nước, mây trời.Lưu biệt lúc xuất dương là 1 bài thơ hay và rực rỡ của Phan Bội Châu trình bày rõ thiên hướng trữ tình chính trị trong thi ca của 1 nhà nho đương đại, người mở đường cho cách mệnh Việt Nam theo thiên hướng mới, dù ko thành công, nhưng mà nó đã biến thành tiền đề, bài học kinh nghiệm thâm thúy cho lớp người đi sau, điển hình là Hồ Chí Minh. Tác phẩm đã biểu thị tư cách cũng như lý tưởng cao đẹp của Phan Bội Châu trong thời đoạn non sông có nhiều bất định, cùng lúc cũng là lời cổ vũ thâm thúy, sự cổ vũ đối với nhiều phân khúc thanh niên Việt Nam đứng dậy chiến đấu và hành động vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, đánh đuổi ngoại xâm.Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 8Phan Bội Châu (1867-1940), quê tại Làng Đan Nhiễm, xã Nam Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, ngay từ bé ông đã trình bày là mình là 1 người tài ba xuất chúng, lại sớm có lòng yêu nước và tinh thần về việc giải phóng dân tộc. Phan Bội Châu cũng là 1 người mang quan niệm nhập thế hăng hái hết sức thâm thúy, nặng lòng với nghiệp công danh cùng món nợ của phận đại trượng phu.Ông tham dự hăng hái vào nhiều phong trào chống Pháp và sau nhiều lần thất bại rốt cuộc ông đã nhận thức được sự sai trái, yếu kém trong cá tính tổ chức của các phong trào yêu nước thời bấy giờ, từ đấy đề ra chủ trương cứu nước theo tuyến đường tư sản. Ông nấu nung ý định cho các thanh niên ưu tú của sơn hà sang các nước như Nhật Bản, Trung Quốc để học hỏi rồi trở về hỗ trợ non sông, còn gọi là phong trào Đông Du, với tên gọi tổ chức là Duy Tân hội.Sự văn minh trong tư tưởng cứu quốc của Phan Bội Châu nghe đâu đã mở ra 1 tuyến đường sáng cho cách mệnh Việt Nam thời đoạn đầu, vào những 5 cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, dẫu rằng kết quả ko như mong chờ. Kế bên vai trò là 1 nhà hoạt động cách mệnh hoàn hảo, có nhiều đóng góp bự mập trong công cuộc giải phóng non sông thì Phan Bội Châu còn được biết tới với nhân cách là 1 thi sĩ, nhà văn mập trong nửa đầu thế kỷ 20, với số lượng tác phẩm mập, được xem là người bắt đầu cho nền văn chương cách mệnh Việt Nam, nhưng mà sau Tố Hữu chính là người đưa nó bước đến đỉnh cao.Lưu biệt lúc xuất dương là 1 bài thơ điển hình cho cá tính sáng tác của Phan Bội Châu, nó ko chỉ thuần tuý là 1 bài thơ trình bày lý tưởng cách mệnh của chí sĩ yêu nước, nhưng mà còn ghi lại mốc quan trọng bắt đầu công cuộc tìm đường cứu nước theo chủ nghĩa tư bản của thi sĩ.Lưu biệt lúc xuất dương được viết vào 5 1905, trước lúc Phan Bội Châu cùng 1 số thanh niên ưu tú khác lên tàu vượt biển sang Nhật Bản học tập. Tác phẩm có ý nghĩa cổ vũ, khích lệ ý thức cho người ra đi, cùng lúc cũng có chức năng củng cố ý thức, niềm tin, hướng đứa ở lại về 1 ngày mai tốt đẹp hơn, sáng lạn hơn của non sông. Thể hiện được rõ chí khí làm trai của 1 nhà nho, với ý thức yêu nước thâm thúy, cố gắng trả món nợ công danh cho đời lúc Đất nước lâm nguy, lịch sử có nhiều bất định.Trong 2 câu thơ đầu tác giả đã trình bày rất rõ ý kiến của mình về chí làm đại trượng phu trong thời đại mới, 1 thời đại đầy bất định, buộc con người ta phải có những chuyển đổi về ý chí để kiến lập 1 tuyến đường riêng cho bản thân và cho dân tộc, non sông nhưng mà vẫn giữ được khí tiết của 1 nhà nho chân chính, trong vai trò 1 nhà cách mệnh sôi nổi.(adsbygoogle=window.adsbygoogle||[]).push({}) “Làm trai phải lạ ở trên đờiHá để càn khôn tự chuyển dời”Phan Bội Châu quan niệm rằng thân đại trượng phu “vai 5 tấc rộng, thân mười tấc cao” sống ở trên đời phải tạo ra được chữ “lạ” cho riêng mình, nghĩa là ko cam chịu cuộc sống phổ biến mờ nhạt, quẩn quanh bên chốn “ao tù nước đọng”, nhưng mà phải tự khiến cho mình có điểm đặc sắc, nổi trội phê duyệt những lý tưởng cao đẹp, những mong ước và hy vọng mập, tráng chí ở 4 phương.Người đại trượng phu phải dám tự thử thách bản thân mình vượt ra khỏi cái vòng an toàn, vượt qua được trở ngại chi ly, được mất, vượt ra khỏi mọi giới hạn mực thước 1 cách mạnh bạo và can đảm, để đạt được những thành công mập, làm nên sự nghiệp hiển hách, phi thường, khác biệt nhưng mà hiếm kẻ làm được. Để “thà 1 phút huy hoàng rồi vụt tắt/Còn hơn le lói suốt trăm 5”, để cuộc đời đại trượng phu sống sao cho xứng với 2 chữ “đại trượng phu”, có góp sức cho cuộc đời, trả cho kỳ được món nợ công danh, chớ để hoài phí 1 cuộc đời mờ nhạt bất nghĩa.Cái quan niệm về chí làm trai trong thời đại mới của Phan Bội Châu tiếp diễn được làm rõ phê duyệt câu “Há để càn khôn tự chuyển dời”. Thể hiện ý chí mạnh bạo, thái độ hiên ngang, ý muốn thử thách, ngang tầm với vũ trụ, rằng thân trai tráng cần phải nắm chắc và tự quyết định lấy vận mệnh cuộc đời 1 cách quyết liệt và mạnh bạo. Chứ không hề là ý muốn cuộc sống nhàn hạ, bằng lòng sự sắp xếp của tạo hóa, biểu thị khẩu khí mạnh bạo, ngang tàn của bậc nam nhi, mang khí thế tự tin, táo tợn và hiên ngang hết sức.Ý thơ của Phan Bội Châu ko chỉ nằm ở việc trình bày tráng chí của bản thân nhưng mà kế bên đấy còn mang ý nghĩa cổ vũ các thanh niên trong thời đại mới, biết đứng lên tự lực, tự cường, đeo đuổi lý tưởng cao đẹp, phụng sự cho Đất nước, nâng tầm vóc của bản thân mình ngang tầm vũ trụ, tạo hóa, rũ bỏ cuộc đời bình thường, quẩn quanh ao vườn, ruộng cá, để kiến thân lập nghiệp.Trong 2 câu thơ tiếp “Trong khoảng trăm 5 cần có tớ/Sau này muôn đời há ko người nào” chính là nhận thức của tác giả về phận sự của người làm trai với non sông, dân tộc, là món nợ công danh cần phải đáp đền. Đặc thù là trong thời buổi lịch sử dân. tộc có nhiều chuyển đổi, giặc dữ rắp ranh xâm phạm chủ quyền thì thanh niên lại càng phải biết đứng ra phụng sự cho Đất nước.Tác giả đã vẽ ra khoảng thời kì “trăm 5”, trước là ẩn ý chỉ về 1 kiếp người như quan niệm của cha ông ta từ bao đời nay, 1 đời tức chỉ trăm 5. Thứ 2 nữa khoảng thời kì trăm 5 còn là để gợi nhắc về 1 thế kỷ bất định của dân tộc, sự thế đã biết bao lần thay đổi, sự suy vong của cơ chế phong kiến, sự xâm lăng của đế quốc phương Tây khiến dân chúng biết bao phen lầm than. “Trong khoảng trăm 5 cần có tớ” là ẩn ý của tác giả về tầm quan trọng của bản thân trong công cuộc phục hưng, bảo vệ non sông.Nhưng người làm trai, sức dài vai rộng trong giữa sự sắp xếp của tạo hóa, đã ban cho ta 1 khoảng thời kì đầy bất định, thì bản thân người chí sĩ phải làm sao cho xứng với sự hy vọng của tạo hóa, cũng như xứng đáng với cái danh đại trượng phu của mình. Giả dụ câu trước là khẳng định tầm quan trọng của đấng đại trượng phu trước thời cục, là sự nhận thức về lý tưởng cũng như vai trò của bản thân với non sông thì câu thơ “Sau này muôn đời há ko người nào?” lại là 1 câu hỏi ngỏ, trình bày sự hy vọng, cũng như sự cổ vũ của tác giả đối với tầng phân khúc lớp các lứa tuổi thanh niên và tương lai nữa.Phan Bội Châu đã dùng chính tráng chí, lý tưởng cao đẹp của mình làm tấm gương sáng, cũng như đặt những bước chân trước hết cho tuyến đường cách mệnh đương đại của dân tộc, của thanh niên Việt Nam. Thức tỉnh trong họ những nhận thức về ý thức cách mệnh, lòng yêu nước, tinh thần phận sự của người thanh niên, và sự tự tin chuẩn bị đương đầu với sóng gió của bậc nam nhi.Tới 2 câu thơ luận, Phan Bội Châu lại cho chúng ta thấy tầm nhận thức tiến bộ của 1 nhà nho yêu nước, 1 nhà cách mệnh kiểu mới trước tình hình dân tộc, trước sự suy thoái của cơ chế phong kiến và nền nho học đang dần mất đi vị thế vốn có của mình. “Non sông đã mất sống thêm nhụcHiền thánh còn đâu học cũng hoài”“Non sông đã chết” đấy là cái chết của chủ quyền dân tộc, chủ quyền cương vực và sự suy vong của cơ chế phong kiến, non sông lầm than thế nhưng mà bọn đầu sỏ cầm quyền, những con người đứng đầu 1 non sông lại sợ sệt, chỉ dám chui luồn, xu nịnh đám giặc Tây để níu kéo những tháng ngày gấm vóc lụa, là hữu danh vô thực, còn chớ thây số mệnh dân tộc và non sông. 1 non sông nhưng mà ko có chủ quyền, ko có tự do, triều đình phong kiến chỉ là 1 mớ bù nhìn, thối nát tận xương thì còn cách bên bờ bại vong là mấy bước chân nữa đâu.Thế nên tác giả nói “quốc gia đã chết” cũng chẳng có gì là ko đúng, đặc trưng 1 người với tráng chí, với ý thức yêu nước mạnh bạo như Phan Bội Châu thì đứng trước cảnh xa đó thì quả thực là điếm nhục khôn xiết. Tới câu thơ sau “Hiền thánh còn đâu học cũng hoài”, người ta lại càng thán phục cái tư cách và nhận thức của Phan Bội Châu.Bởi vốn dĩ Phan Bội Châu là 1 nhà nho chịu tác động rất mạnh bạo từ nền giáo dục phong kiến từ thuở thiếu thời, thế nhưng mà ông ko như 1 số những nhà nho câu chấp ôm bo bo giấc mộng hão huyền về việc phục hưng những thứ vốn đã cũ kỹ, lỗi thời nhưng mà ngược lại ông lại chính là 1 trong những người trước hết nhìn thẳng vào vấn đề, phanh phui sự tụt hậu của nho học, vạch rõ nguyên cớ khiến non sông lâm vào hiện trạng hèn yếu.Không phủ nhận rằng Nho học quả thật là 1 kho tàng bao la, đem lại cho con người sự giáo dục tốt đẹp, thế nhưng mà nhìn vào bối cảnh hiện nay nó chỉ mang lại những sự ảo vọng ko có thực, ko có lợi trong việc diệt giặc thù, giành lại chủ quyền dân tộc. Việc phủ nhận nền Nho học vốn đã gắn bó với mình bao lăm lâu đó quả thật là nỗi chua xót hết sức mập của tác giả, nhưng mà với tư cách cũng như lý tưởng cao đẹp và lòng cố gắng của 1 chí sĩ yêu nước, thì ko nỗi đau nào vượt qua được nỗi đau mất nước.Nhưng với nhân cách người làm trai, ông lại càng phải trình bày vai trò phục hưng Đất nước bằng tuyến đường đương đại chứ không hề là ôm mãi giấc mộng huy hoàng đã qua. Từ đấy ta thấy được tâm hồn khoáng đạt, mạnh bạo và tự do của 1 chí sĩ yêu nước chân chính, chuẩn bị hy sinh tất cả, nén nhịn nỗi đau tư nhân vì ích lợi của dân tộc, của non sông, để hoàn trả món nợ công danh.Cuối cùng ở 2 câu thơ kết “Muốn vượt bể Đông theo cánh gió/Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi” chính là hình ảnh người chí sĩ yêu nước lên đường vượt biển xa quê hương để tìm đến chân mây mới, học hỏi những tri thức mới để trở lại phụng sự cho Đất nước, dân tộc với phong độ hiên ngang và tự tin hết sức.Những hình ảnh “bể Đông”, “muôn trùng sóng bạc” đã gợi ra 1 bối cảnh ko gian bao la, hào phóng, trình bày tâm hồn yêu đời, cùng những khát vọng, lý tưởng cao mập muốn vươn ra biển mập của người chí sĩ. Tầm vóc con người trở thành kì vĩ, mập lao nổi trội hẳn trên cái nền của tự nhiên bởi sự tự hào, tráng chí hùng mạnh bên trong tâm hồn đối tượng trữ tình.Lưu biệt lúc xuất dương là 1 bài thơ hay, có nội dung và ý nghĩa mập, ko chỉ biểu thị những khát vọng, lý tưởng cao đẹp của 1 nhà hoạt động cách mệnh thời đại mới, nhưng mà còn là lời cổ vũ cổ vũ, khơi dậy ý thức yêu nước, lòng tự trọng dân tộc, cũng như thức tỉnh sự tự tin, lý tưởng và khát vọng cao đẹp của thanh niên Việt Nam trong bối cảnh non sông có nhiều bất định.Có thể nói rằng Lưu biệt lúc xuất dương là 1 trong những bài thơ mang thiên hướng trữ tình cách mệnh trước hết, khơi nguồn cho nền văn chương cách mệnh của dân tộc đạt tới đỉnh cao về sau này.Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 9“Thi dĩ ngôn chí” – thơ để nói chí, tỏ lòng. Cho nên tầm vóc của loại thơ này cuối cùng, dựa dẫm vào tầm vóc của chí. Nhưng chí khí không hề là những bộc phát nhất thời, càng chẳng thể là những chí hướng vay mượn. Chí cần phải được bảo đảm bằng nghiệp.Có thể có những sự nghiệp ko thành, nhưng mà sự dang dở đó cũng chứng tỏ về 1 chí mập đã lao vào, không hề thứ chí suông. Chính nó là sự bảo đảm cho thơ. Vì vậy. thơ sẽ chỉ còn là những lời lẽ phô trương sáo rỗng, là sự thổi phồng đao bự búa mập rẻ tiền, giả dụ ko có 1 chí mập, hơn thế giả dụ chí mập đó ko gắn với 1 cốt cách mập, 1 cuộc đời mập.Tiếng thơ biểu thị trực tiếp các chí mập lâu nay thường gắn với những bậc anh hào, những đấng lang quân. Thơ của họ là lời tuyên ngôn của cuộc đời họ. Trước lúc họ tạc con người mình vào trong thơ, thì họ đã tạc con người mình vào núi sông. Người đời thường ví họ như chim hồng, chim hộc và đối lập với những chim sẻ, chim ri. Và trong thơ của mình, họ xuất hiện đúng như những cánh đại bàng tung hoành trong bát ngát trời biển.Tư thế của họ là tư thế kì vĩ, tư thế vũ trụ, chẳng “Hoành sóc sơn hà cáp kỉ thu’ (Cấp ngang ngọn giáo bảo vệ sơn hà đã mấy. thu – Phạm Ngũ Lão), thì cũng “Kỉ độ long tuyền đới nguyệt ma” (Bao phen mang gươm báu mài dưới trăng – Đặng Dung), chảng “Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư” (Kêu bự 1 tiếng làm lạnh cả hư vô – Không Lộ thiền sư) thì cũng “Bay thẳng cánh muôn trùng Tiêu Hán, Phá vòng vây bạn với Kim ô” (Nguyễn Hữu cầu)… như thế dã chứa đựng trong đấy hào khí của cả nòi giống.Nằm trong mạch ngôn chí trực tiếp đó, Xuất dương lưu biệt của Phan Bội Châu là hùng tâm tráng chí của 1 trong những người con ưu tú nhất của giống nòi giống Việt Nam. Thực ra cái quan niệm làm trai ở trong bài thơ này ko phú của riêng Phan Bội Châu. Nó là quan niệm chung về chí làm trai của nhà Nho thuở trước. Và ít ra ta cũng thấy nó từng vang lên rất mãnh liệt trong thơ văn Nguyễn Công Trứ.Song, điều đáng nói chính là ở chỗ, không hề Phan Bội Châu đang ném ra cuộc đời 1 quan niệm lí thuyết như 1 người có ý đồ lập thuyết, nhưng mà ông là người đã sống cái quan niệm đó 1 cách đủ đây trước lúc viết thành thơ. Có nhẽ vì vậy nhưng mà Xuất dương lưu biệt ko chỉ chứa đựng 1 lẽ sống nhưng mà trước tiên là chứa đựng chân dung 1 con người – 1 con người lỗi lạc, kiệt xuất. Hai câu đề: Làm trai phải lạ ở trên đời,Há để càn khôn tự chuyển dời.Tôi ko nghĩ chữ “lạ” trong bản dịch này đã trình bày được hết cái ý thức của chữ “kì”. Bởi chữ “kì” muốn nhắc đến cái điều: làm trai phải làm được những điều kì dị, kiệt xuất, phi thường. 1 mình chữ “lạ” ko tải hết ý của Phan tiên sinh. Tôi cũng ko nghĩ rằng người dịch dùng 3 chữ “ở trên đời” là đã diễn được thực ý của nguyên tác.“Đời” là 1 ko gian tưởng là rộng nhưng mà hóa ra lại hẹp, bởi nó có xu thế co vào cái khuôn khổ của toàn cầu người thôi. Trong nguyên văn, Phan Bội Châu ko dùng những chữ đó. Chỉ tới câu thứ 2 ta mới thấy yêu tố ko gian hiện ra. Và tức khắc bậc tu mi nam tử theo quan niệm của Phan Sào Nam đã xuất hiện trong tương quan kì vĩ nhất: ko gian vũ trụ.Đấng đại trượng phu sinh ra ở trong vũ trụ này là đương đầu với càn khôn (trời đất), tức là với tất cá những gì mập lao nhất trong vũ trụ này, chứ ko riêng gì toàn cầu người. Vậy là ngay từ 2 câu đề, hình ánh nói chung về 1 bậc anh hào đã hiện lên đầy ấn tượng: Ấy không hề là kẻ sống tiêu cực phó mặc đường đời mình cho trời đất, và cũng ko phó mặc cõi đời này cho sự xoay vần của trời đất.Đấng nam tử phải là người chủ động thay đổi cả càn khôn. Cái chí ngang dọc trời đất, chọc trời khuấy nước, cải tạo vũ trụ đấy mới là điều xứng với 1 đời làm đại trượng phu. Quan niệm con người của Phan Bội Châu ở đây là quan niệm con người vũ trụ rất không xa lạ của văn học Nho giáo trung đại. Nếu 2 câu đề gợi ra hình ảnh nam tử trong ko gian kì vĩ, thì 2 câu thực đã tăng trưởng hình ảnh đó trong 1 chiều kích khác: thời kì. Thời gian ở đây cũng là thời kì thuộc tầm cỡ vĩ mô: Trong khoảng trăm 5 cần có tớ,Sau này muôn đời há ko người nào?Ở câu đề tuy khẩu khí tư nhân đã rõ, nhưng mà quan niệm vẫn là quan niệm chung. Tới đây thì con người tư nhân Phan Bội Châu đã hiện ra ngay trên bề mặt câu chữ. Ông đã tinh thần về vai trò lịch sử của mình thật hùng dũng đầy tự trọng, tự tin. Mình phải biến thành 1 đối tượng chẳng thể thiếu trong cái khoảng thời kì 1 trăm 5 nay. Nói 1 cách khác, ông tự lãnh nhận sứ mệnh của mình: 1 con người cần phải có của thế kỉ.Đối diện với càn khôn, đối diện với cả thế kỉ, tầm vóc của bậc nam tử này thật là tầm vóc vũ trụ. Không phải ông muốn chiếm lấy 1 chỗ đứng chỉ cần khoảng như 1 kẻ vĩ cuồng háo danh. Nhưng chính là làm nên cái việc trọng đại, kiệt xuất là xoay chuyển càn khôn để làm thay đổi gương mặt của thế kỉ. Chữ “tớ” là cách dịch thoát của chữ “ngã“ (tôi).Dù dịch là tôi, là ta, là “tớ” thì ngã vẫn cứ là cái tinh thần mãnh liệt về tư nhân mình trên cõi trần giới này. Hình ảnh tác giả xuất hiện trong bát ngát thời kì, lồng lộng ko gian như thế là 1 vẻ đẹp tư nhân thật hoa lệ nguy nga. Phcửa ải thấy rằng, ít có người nào đã tự họa mình trong 1 ko gian và thời kì hoành tráng tương tự! Dầu sao trong 4 câu đầu này mới nhắc đến điều phải “lạ”, nhưng mà chưa nói rõ “việc lạ” cần làm là gì! 4 câu tiếp theo sẽ dần dần làm sáng lên điều đấy. Hai câu luận là 1 sự nhìn nhận phi thường: Non sông đã sống chết thêm nhục,Hiền thánh còn đâu học cũng hoàiCâu trên khẳng định: Non sông đã chết! Khi chủ quyền đã về tay kẻ ngoại quốc, thì quốc gia đã chết. Sống nhưng mà ko có quyền làm chủ là sống nhục. 4 chữ “Giang sơn tử hĩ” chất đầy đớn đau và căm uất. Câu dưới tiếp diễn Hiền thánh đã vắng bóng thì có đọc sách cũng ngu thôi! Tất cả là những lời phủ định dứt khoát, quyết liệt rằng: Còn học đòi sách vở, còn sống ở trong nước thời buổi này là điều điếm nhục đối với 1 trang đại trượng phu.Bởi đấy là đã nhắm mắt nhắm mũi quay lưng cho “càn khôn tự chuyển đi”, là phó mặc mình cho đời xoay vần. Tất cả những gì thiêng liêng xứng đáng với 1 bậc nam tử coi như đã chết. Vì vậy nhưng mà thiết yếu hành động xứng đáng. Hành động xứng đáng, hành động kiệt xuất phi thường đó hiện thời chính là: Xuất dương. Những câu trên ta thấy cái tôi (ngã) xuất hiện trước “càn khôn”, trước “ Bách niên trung”, “Thiên tải hậu” những chiều kích vĩ của ko gian và thời kì, ở đây, nó tiếp diễn được tô đậm bằng: “Giang sơn” và “Thánh hiền”.Con người đó đương đầu với sơn hà non sông, đương đầu với toàn thể nền học thức. Cho nên, càng về sau chân dung của con người đó, cái tôi đó càng sắc nét với tất cả những gì mập lao nhất. Cái ko gian độc nhất có thể chứa đựng được con người đó là vũ trụ. Tới 2 cấu kết thì những nét bút kì vĩ rốt cuộc đã hoàn thiện hành động kiệt xuất của 1 cuộc đời kiệt xuất: Muốn vượt biển Đông theo cánh gió,Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.6 câu trên gợi ra những suy nghĩ, những tuyển lựa, những sẵn sàng trong tâm lí, trong tư tưởng của 1 con đại bàng. Ở 2 câu này, chúng ta thấy con đại bàng đó đang tung đôi cánh bát ngát của mình bay thẳng ra trùng dương, đương đầu với hết thảy những giông tố bão bùng. Câu thơ gợi ta nhớ tới tư thế của con chim mập trong thư Quận He: “Bay thẳng cánh muôn trùng Tiêu Hán, Phá vòng vây bạn với Kim ô”.Nhưng câu thơ của Phan Bội Châu ko còn là 1 hình ảnh ước lệ nữa. Bởi phong trào Đông du nhưng mà ông là người chủ trương, bởi việc xuất dương nhưng mà ông là người cử sự chính là những hành động phi thường của những bậc lang quân chuẩn bị ném đời mình vào muôn trùng sóng bạc ra khơi tìm đường làm sống lại “sơn hà đã chết”, tìm cách xoay chuyển càn khôn. Bài thơ kết bằng câu thơ đầy hùng tâm tráng chí nhưng mà câu thơ dịch chưa thể truyền tải hết được: Thiên trùng bạch lãng nhất loạt phi.Như vậy, làm trang đại trượng phu không hề là bằng mọi cách để lưu danh sử sách, khẳng định tư nhân. Nhưng tư nhân đó phải làm nên việc phi thường, đó là việc kinh bang, tế thế, cứu dân cứu nước. Khát vọng sống cao cả của Phan Bội Châu ở đây, 1 lần nữa, giúp ta hiểu được cái cốt cách lớn lao của con người kiệt xuất này.Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 10Phan Bội Châu (1867 – 1940) tên thật là Phan Văn San, hiệu là Sào Nam, người làng Đan Nhiệm, nay là xã Nam Hoà, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Ông sinh ra và mập lên trong cảnh nước mất nhà tan, tận mắt chứng kiến sự thất bại của phong trào Cần Vương chống Pháp. Chế độ phong kiến suy vong kéo theo sự sụp đổ của cả 1 hệ thống tư tưởng phong kiến già cỗi, lạc hậu.(adsbygoogle=window.adsbygoogle||[]).push({})Tình hình đấy đặt ra cho các chí sĩ yêu nước 1 câu hỏi mập: Phcửa ải cứu nước bằng tuyến đường nào? Trong ko khí âm u bao trùm khắp non sông thời đấy, những tia sáng hi vọng hé rạng qua nguồn sách Tân thư quảng bá tư tưởng cách mệnh dân chủ tư sản của phương Tây với nội dung khác hẳn với các sách thánh hiền thuở trước. Người ta có thể tìm thấy ở đấy những gợi ý thu hút về 1 tuyến đường cứu nước mới, những cảnh xa đầy hẹn hứa hẹn cho ngày mai. Vì vậy, các nhà Nho đương đại của thời đại như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đã đi đầu dấn bước, bất chấp gian nguy, gian khó.Phan Bội Châu là 1 trong những chí sĩ yêu nước trước hết mở ra tuyến đường cho sự nghiệp chiến đấu giải phóng dân tộc theo thiên hướng dân chủ tư sản. Mặc dầu sự nghiệp ko thành, nhưng mà ông mãi mãi là tấm gương sáng chói về lòng yêu nước khẩn thiết và ý chí chiến đấu kiên định, quật cường.Sinh thời, Phan Bội Châu ko coi văn học là mục tiêu của cuộc đời mình nhưng mà trong giai đoạn hoạt động cách mệnh, ông đã chủ động nắm lấy thứ vũ khí tinh khí sắc bén đó để tuyên truyền, cổ động, cổ vũ ý thức yêu nước của đồng bào ta. Năng khiếu văn học, bầu tâm huyết sục sôi cùng sự trải đời trong bước đường cách mệnh là cơ sở để Phan Bội Châu biến thành 1 nhà văn, thi sĩ mập với những tác phẩm hoàn hảo như: Việt Nam vong quốc sử (1905), Hải ngoại huyết thư (1906), Ngục trung thư (1914), Trùng Quang tâm sử (1913 -1917), Phan Bội Châu niên biểu (1929)…5 1904, ông cùng các đồng đội của mình lập ra Duy Tân hội. 5 1905, hội chủ trương phong trào Đông Du, đưa thanh niên ưu tú sang Nhật Bản học tập để sẵn sàng lực lượng cốt cán cho cách mệnh và tranh thủ sự hỗ trợ của các thần thế bên ngoài. Trước khi lên đường, Phan Bội Châu làm bài thơ Xuất dương lưu biệt để giã biệt bằng hữu, đồng đội. Phiên âm chữ Hán: Sinh vi nam tử yếu hi kì,Khẳng hẹn càn khôn tự di chuyển.Ư bách niên trung tu hữu ngã,Khởi thiên tải hậu cảnh vô thùy.Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế,Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si!Nguyện trục trường phong Đông hải khứ,Thiên trùng bạch lãng nhất loạt phi.Dịch thơ: Làm trai phải lạ ở trên đời,Há để càn khôn tự chuyển dời.Trong khoảng trăm 5 cần có tớ,Sau này muôn đời, há ko người nào?Non sông đã chết, sống thêm nhục,Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài!Muốn vượt bể Đông theo cánh gió,Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.Bằng giọng thơ nhiệt huyết có sức lay chuyển mạnh bạo, Lưu biệt lúc xuất dương đã khắc họa vẻ đẹp lãng mạn hào hùng của nhà chí sĩ cách mệnh Phan Bội Châu, với tư tưởng mới mẻ, táo tợn, bầu tâm huyết sôi trào và khát vọng cháy bỏng trong buổi ra đi tìm đường cứu nước. Bài thơ bắt đầu bằng việc khẳng định chí làm trai: Làm trai phải lạ ở trên đời,Há để càn khôn tự chuyển dời.Câu thơ chữ Hán: Sinh vi nam tử yếu hi kì. Hai từ hi kì có tức là hiếm, lạ, khác lạ cần được hiểu như những từ nói về thuộc tính mập lao, trọng đại, kì vĩ của công tác nhưng mà kẻ làm trai phải đảm trách. Đây cũng là lí tưởng nhân sinh của các nhà Nho thời phong kiến.Trước Phan Bội Châu, nhiều người đã nói đến tới chí làm trai trong thơ ca. Phạm Ngũ Lão đời Trần từng băn khoăn: Công danh nam tử còn vương nợ,/ Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu (Tỏ lòng). Trong bài Đi thi tự vịnh, Nguyễn Công Trứ khẳng định: Đã mang tai mang tiếng ở trong trời đất,/ Phcửa ải có danh gì với sông núi… và nhấn mạnh: Chí làm trai nam, bắc, tây, đông/ Cho phỉ sức tung hoành trong 4 bể (Chí khí người hùng).Chí làm trai của Phan Bội Châu thuyết phục lứa tuổi trẻ thời bấy giờ ở sự táo tợn, quyết liệt và cảm hứng lãng mạn nhiệt liệt bay bổng. Với ông, làm trai là phải làm được những điều lạ, tức những việc hiển hách phi thường. Câu thơ thứ nhất khẳng định điều đấy. Câu thơ thứ 2 mang ngữ điệu cảm thán bổ sung cho ý của câu thứ nhất: Kẻ làm trai phải can hệ vào việc xoay chuyển càn khôn, chuyển đổi thời thế chứ không hề chỉ giương mắt ngồi nhìn thời cục thay đổi, yên phận thủ thường, bằng lòng mình là kẻ đứng ngoài.Thực ra, đây là sự nối tiếp khát vọng của đối tượng trữ tình trong bài Chơi xuân: Giang sơn còn thêu dệt mặt đại trượng phu,/ Sinh thời thế phải xoay nên thời thế. Chân dung đối tượng trữ tình trong bài Lưu biệt lúc xuất dương hiện lên khá rõ qua 2 câu đề. Ấy là 1 con người mang tầm vóc vũ trụ, tự tinh thần rằng mình phải có phận sự đảm trách những trọng trách mập lao.Con người đó dám đương đầu với cả càn khôn, vũ trụ để tự khẳng định mình. Chí làm trai của Phan Bội Châu đã vượt hẳn lên trên cái mộng công danh lâu nay thường gắn liền với tam cương, ngũ thường của Nho giáo để vươn đến lí tưởng xã hội bao la và cao cả hơn nhiều.Cảm hứng và ý nghĩ đấy phần nào xuất hành từ lí tưởng trí quân, trạch dân của các nhà Nho thuở trước nhưng mà văn minh hơn vì mang thuộc tính cách mệnh. Theo quy luật, hồng quân xoay vần vốn là lẽ thường tình, nhưng mà Phan Bội Châu ấp ôm khát vọng chủ động xoay chuyển càn khôn, chứ ko để cho nó tự chuyển vần.Cũng có tức là ông ko chịu khuất phục trước số mệnh, trước tình cảnh. Lí tưởng văn minh đó đã tạo cho đối tượng trữ tình trong bài thơ 1 tầm vóc mập lao, 1 tư thế hiên ngang, ngạo nghễ thử thách với càn khôn. Hai câu thực trình bày tinh thần về phận sự tư nhân của thi sĩ, cũng là nhà cách mệnh đi đầu trước cuộc đời: Trong khoảng trăm 5 cần có tớ,Sau này muôn đời, há ko người nào?Câu thứ 3 ko chỉ dễ dãi công nhận sự có mặt của đối tượng trữ tình ở trên đời nhưng mà còn hàm chứa 1 tâm niệm: Sự hiện diện của ta không hề là 1 sự kiện tình cờ, vô bổ; thành ra, ta phải làm 1 việc gì đấy mập lao, bổ ích cho đời. Câu thứ tư có tức là nghìn 5 sau, chẳng lẽ, chẳng có người nối liền công tác của người đi trước. “Cái tôi công dân” của tác giả đã được đặt ra giữa giới hạn trăm 5 của đời người và nghìn 5 của lịch sử.Sự khẳng định cần có tớ không hề với mục tiêu hưởng lạc nhưng mà là để góp sức cho đáng mặt đại trượng phu và lưu danh hậu thế. Câu hỏi tu từ cũng là 1 cách khẳng định mãnh liệt hơn khao khát góp sức và nhận thức đúng mực của tác giả: Lịch sử là 1 dòng chảy liên tiếp, cần có sự góp mặt và đảm trách của nhiều lứa tuổi nối liền nhau. Trong 4 câu thơ đầu, những hình ảnh kì vĩ của tự nhiên như càn khôn, trăm 5, muôn đời đã trình bày cảm hứng lãng mạn bay bổng, chính là cỗi nguồn sức mạnh niềm tin của đối tượng trữ tình.Ở những 5 đầu thế kỉ XX, sau thất bại liên tục của các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp, 1 nỗi bi lụy, tuyệt vọng đè nặng lên tâm hồn những người Việt Nam yêu nước. Tâm lí yên phận thủ thường lan rộng. Trước tình hình đấy, bài thơ Lưu biệt lúc xuất dương có ý nghĩa như 1 hồi chuông thức tỉnh lòng yêu nước, cổ vũ mọi người đứng lên chống giặc ngoại xâm. Trong 2 câu luận, Phan Bội Châu đặt chí làm trai vào tình cảnh thực tiễn của lịch sử đương thời: Non sông đã chết, sống thêm nhục,Hiền thánh còn đâu học cũng hoài.Lẽ nhục – vinh nhưng mà tác giả đặt ra gắn liền với sự tồn vong của non sông và dân tộc: Non sông đã chết, sống thêm nhục. Ý nghĩa của nó tương đồng với ý kiến: Chết vinh còn hơn sống nhục trong thơ văn yêu nước Nguyễn Đình Chiểu cuối thế kỉ XIX.Câu thơ thứ 5 bộc bạch 1 thái độ dứt khoát, được trình bày bằng tiếng nói đậm khẩu khí người hùng, bằng sự đối lập giữa sống và chết. Ấy là khí tiết cương cường, quật cường của những con người ko cam chịu cuộc đời bầy tớ tủi hổ. Ý thơ mới mẻ mang thuộc tính cách mệnh. Ở câu thứ 6, Phan Bội Châu đã ngay thẳng bộc bạch quan điểm trước 1 thực tiễn đau xót là tác động của nền giáo dục Nho giáo đối với cảnh ngộ sơn hà khi bấy giờ.Sách vở thánh hiền chẳng giúp ích được gì trong buổi nước mất nhà tan. Cho nên nếu cứ bo bo đeo đuổi thì chỉ hoài công vô bổ nhưng mà thôi. Đương nhiên, Phan Bội Châu chưa hoàn toàn phủ nhận cả nền học thức Nho giáo, nhưng mà đưa ra 1 đánh giá như thế thì quả là táo tợn đối với 1 người từng là môn sinh của chốn cửa Khổng sân Trình.Dũng khí và nhận thức minh mẫn đấy trước tiên bắt nguồn từ lòng yêu nước khẩn thiết và khát vọng cháy bỏng muốn tìm ra tuyến đường đi mới để đưa sơn hà thoát khỏi cảnh bầy tớ lầm than. Phan Bội Châu cho rằng nhiệm vụ thiết thực trước mắt là cứu nước cứu dân, là Duy tân, nghĩa là học hỏi những tư tưởng cách mệnh mới mẻ và văn minh. Bài thơ ko thuần tuý là chỉ để bộc bạch ý chí nhưng mà đích thực là 1 cuộc lên đường của đối tượng trữ tình: Muốn vượt bể Đông theo cánh gió,Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.Các hình ảnh kì vĩ trong 2 cấu kết mang tầm vũ trụ: bể Đông, cánh gió, muôn trùng sóng bạc. Tất cả như hòa nhập làm 1 với con người trong tư thế bay lên. Trong nguyên tác, 2 câu 7 và 8 kết hợp với nhau để hoàn chỉnh 1 tứ thơ đẹp: Con người đuổi theo ngọn gió mập qua biển Đông, cả vũ trụ rộng lớn Muôn lớp sóng bạc cùng bay lên (Thiên trùng bạch lãng nhất loạt phi).Tất cả tạo thành 1 bức tranh hoành tráng nhưng mà con người là trung tâm được chắp cánh bởi khát vọng mập lao, bay bổng lên trên thực tại u tối hà khắc, lồng lộng giữa trời biển bát ngát. Bên dưới đôi cánh đại bàng đấy là muôn trùng sóng bạc dâng cao, bọt tung trắng xóa, nghe đâu muốn tiếp sức cho con người bay thẳng đến chân mây mong ước. Hình ảnh đậm chất sử thi này đã thắp sáng niềm tin và hi vọng cho 1 lứa tuổi mới trong thời đại mới.Thực tế thì cuộc ra đi của Phan Bội Châu là 1 cuộc ra đi kín đáo, đưa tiễn chỉ có vài 3 đồng đội thân thiện nhất. Dù phía trước chì mới le lói vài tia sáng của mong ước, nhưng mà người ra đi tìm đường cứu nước vẫn hăm hở và đầy tin cậy. Sức thuyết phục, quyến rũ của bài thơ chính là ở ngọn lửa đon đả đang bừng cháy trong lòng đối tượng trữ tình.Bài thơ đã thể hiện ảnh tượng người người hùng trong buổi lên đường xuất dương lưu biệt với tư thế kì vĩ, sống ngang tầm vũ trụ. Người người hùng đó tinh thần rất rõ ràng về “cái tôi công dân” và luôn khắc khoải, day dứt trước sự tồn vong của đất nước, dân tộc.Bài thơ Lưu biệt lúc xuất dương được viết theo văn pháp ước lệ và thổi phồng, rất thích hợp với mục tiêu khích lệ, cổ vũ. Giọng thơ vừa sâu lắng, da diết, vừa sục sôi, hào hùng, mang âm hưởng tráng ca. Nỗi đớn đau, niềm sáng sủa, đon đả hành động cùng tư tưởng cách mệnh đã thổi hồn vào từng câu, từng chữ, từng hình ảnh trong bài thơ. Âm hưởng hào hùng của bài thơ có sức lay chuyển, thức tỉnh rất mập đối với mọi người.Đây là bài thơ từ giã nhưng mà cũng là lời kêu gọi, giục giã lên đường. Tầm vóc bài thơ hoàn toàn tương hợp với tầm vóc của 1 con người được cả dân tộc hâm mộ và tin cậy. Trong tác phẩm Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu (1925) tác giả Nguyễn Ái Quốc đã tôn vinh Phan Bội Châu là: bậc người hùng, vị thiên sứ, đấng lao vào vì độc lập được 2 mươi triệu đồng bào trong khoảng bầy tớ tôn sùng.Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 11Những 5 đầu thế kỉ XX, trong khi non sông Việt Nam mất đi chủ quyền, phong trào Cần Vương thất bại thì tư tưởng dân chủ tư sản đã thổi 1 luồng gió mới tới các thanh niên yêu nước. Họ tìm thấy những lí tưởng mới mẻ và ra đi với 1 niềm tin mạnh bạo vào dân tộc. 1 trong những nhà cách mệnh đã có cuộc ra đi hào hùng tương tự là Phan Bội Châu. Trước lúc lên đường sang Nhật Bản, ông đã viết bài thơ “Lưu biệt lúc xuất dương” như 1 lời từ giã. Đây là 1 bài thơ rực rỡ trong kho tàng văn thơ của Phan Bội Châu. “Làm trai phải lạ ở trên đờiHá để càn khôn tự chuyển dời”Hai câu đầu mở ra 1 quan niệm mới về chí làm trai và vị thế của con người trong xã hội. Đã làm đại trượng phu thì phải sống thật phi thường, hiển hách, dám mưu đồ sự nghiệp, dám xoay chuyển “càn khôn”, dám chủ động chống chọi với thách thức chứ ko sống tiêu cực, tẻ nhạt và bình thường.Con người phải khẳng định được địa điểm của mình trong cuộc đời chứ ko đầu hàng trước số mệnh. Cũng giống như Nguyễn Công Trứ từng dõng dạc: “Làm trai đứng ở trong trời đất/ Phcửa ải có danh gì với sông núi”. Như vậy, Phan Bội Châu đã biểu thị 1 tư tưởng, 1 lẽ sống cao đẹp và văn minh. Từ đấy tác giả tinh thần: “Trong khoảng trăm 5 cần có tớSau này muôn đời, há ko người nào?”Quan niệm mới đã tạo nên nên tinh thần tư nhân gắn với 1 “cái tôi” đầy phận sự trước thời thế. Nhà thơ khẳng định về sứ mạng cao cả, thiêng liêng của mình giữa cuộc đời, tinh thần thâm thúy và phận sự mập lao của bản thân. Không phải chỉ sống 1 cuộc sống nhạt nhòa, phẳng lặng nhưng mà phải sống góp sức, hiên ngang, hiển hách để đánh dấu danh tiếng với hậu thế. Câu thơ thứ tư phủ định chính là để khẳng định dứt khoát hơn về lẽ sống của mình.Những hình ảnh thơ bự mập, kỳ vĩ như “càn khôn”, “trăm 5”, “muôn đời” đã góp phần làm nổi trội lên khao khát sống, góp sức của tác giả. Không chỉ tinh thần được phận sự của mình, Phan Bội Châu còn biểu thị thái độ cương quyết của mình trước thời cục: “Non sông đã chết, sống thêm nhụcHiền thánh còn đâu, học cũng hoài”Bằng tình yêu nước cháy bỏng và đôi mắt tinh tế của mình, Phan Bội Châu đã nhận thức rõ hơn về tình hình non sông khi bấy giờ. Lẽ vinh – nhục được đặt ra như 1 nỗi đau đáu của người đại trượng phu trước cảnh ngộ nước mất, nhà tan. Cũng như những nhà cách mệnh khác, ông cũng trằn trọc về tuyến đường ngày mai của dân tộc, phải làm sao để cứu được non sông. Ông đã tỉnh ngủ nhìn thấy thực tiễn: non sông mất đi chủ quyền, “hiền thánh” cũng chẳng thể làm gì được. Ở câu này, bản dịch thơ chưa sát lắm so với nguyên tác.Bản nguyên tác đã nói lên thái độ dứt khoát, mạnh bạo của Phan Bội Châu: “Thánh hiền đã vắng thì có đọc sách cũng ngu thôi!”. Không phải ông hoàn toàn mất niềm tin ở học thức Nho giáo nhưng mà ông đã minh mẫn nhìn thu được những giảm thiểu của nó. Ấy 1 phần là nhờ vào sự tác động của tư tưởng dân chủ tư sản được truyền vào nước ta. Đứng trước tình hình đấy, Phan Bội Châu đã dấy lên những khát vọng cuồng nhiệt, quyết liệt: “Muốn vượt bể Đông theo cánh gióMuôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi”Hai câu thơ cuối đã vẽ ra tư thế hiên ngang, hào hùng và ko kém phần lãng mạn của người ra đi tìm đường cứu nước. Những hình ảnh thơ mập lao, kì vĩ liên tiếp hiện ra: “bể Đông”, “cánh gió”, “muôn trùng sóng bạc”,… đã góp phần tô đẹp tư thế và khát vọng của con người buổi lên đường. Tuy nhiên, ở bản dịch thơ vẫn chưa làm nổi trội được hết vẻ đẹp của bức tranh này.“Tiễn ra khơi” chỉ là 1 cuộc tiễn đưa phổ biến như bao cuộc tiễn đưa khác, “Ngàn đợt sóng bạc cùng bay lên” mới trình bày đầy đủ và toàn vẹn 1 bức tranh hoành tráng với hình tượng trung tâm là con người, bao quanh là vũ trụ bao la cùng chắp cánh cho mong ước của con người. Trên thực tiễn, đây là cuộc ra đi khá âm thầm, kín đáo, nhưng mà qua bài thơ, tác giả đã trình bày 1 tư thế vô cùng hiên ngang, tự tin vào tiền trình của non sông. Ấy được xem là 1 hình ảnh đẹp trong văn chương, 1 hình ảnh vừa giàu chất sử thi lại vừa hòa quyện với cảm hứng lãng mạn.Bài thơ được bình chọn là 1 trong những thi phẩm có sức quyến rũ mạnh bạo. Không chỉ với tư tưởng và quan niệm mới mẻ nhưng mà còn những nét nghệ thuật rực rỡ. Thi phẩm được viết với thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật thích hợp với việc “nói chí” của Phan Bội Châu. Hình ảnh thơ kỳ vĩ, mập lao góp phần lột tả toàn vẹn những khát vọng hành động và tinh thần phận sự của tác giả. Giọng thơ linh động, sôi nổi và mạnh bạo.Như vậy, cả bài thơ đã xây dựng được hình tượng người chí sĩ cách mệnh với vẻ đẹp hào hùng lãng mạn. Bằng tâm huyết và tình yêu nước sâu nặng của mình, Phan Bội Châu đã ko chỉ biến thành 1 nhà cách mệnh nhưng mà còn biến thành 1 văn sĩ mập của dân tộc, đáng được thiên hạ sau tôn kính.Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 12“Chúng ta có thể nói rằng trong lịch sử giải phóng dân tộc của dân chúng Việt Nam, trước Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phan Bội Châu là 1 đối tượng lớn lao (Tôn Quang Phiệt), Phan Bội Châu là vong linh của các phong trào di chuyển giải phóng Đất nước khoảng 25 5 đầu thế kỉ XX.Danh tiếng ông bất diệt với các tổ chức yêu nước như Hội Duy Tân, phong trào Đông Du, Việt Nam Quang Phục hội… Danh tiếng Phan Bội Châu gắn liền với hàng trăm bài thơ, hàng chục cuốn sách, 1 số bài văn tế và vài 3 vở tuồng tràn đầy ý thức yêu nước. “Phan Bội Châu câu thơ dậy sóng” (Tố Hữu).5 1900, Phan Bội Châu đậu hương nguyên khoa thi Hương trường Nghệ. 5 1904 ông sáng lập ra Hội Duy Tân, 1 tổ chức yêu nước. 5 1905 ông dấy lên phong trào Đông Du. Trước khi lên đường Đông du, qua Trung Hoa, Nhật Bàn đế nguyện cầu viện với bao hoài bão vùng vẫy, ông đã để lại đồng đội bài thơ Lưu biệt lúc xuất dương (Xuất dương lưu biệt.) được viết bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn bát cú Đường luật.Đây là khúc tráng ca bộc lộ tư thế. quyết 8 hăm hở, và những ý nghĩa cao cả mới mẻ của chí sĩ Phan Bội Châu trong buổi đầu xuất dương cứu nước. Hai câu đề là 1 tuyên ngôn về chí hướng, về lẽ sống cao cả: Sinh vi nam tử yếu hi kìKhẳng hẹn càn khôn tự di chuyển.Kiêu hãnh mình là đấng đại trượng phu thì phải sống cho ra sống mong muốn làm nên điều lạ (yếu hi kì). Suy rộng ra, là chẳng thể sống bình thường. Không thể sống 1 cách tiêu cực để cho trời đất (càn khôn) tự chuyển dời 1 cách vô vị, nhạt nhẽo. Câu thơ trình bày 1 tư thế, 1 tâm thế rất đẹp về chí đại trượng phu, tự tin ở đức độ và tài năng của mình, muốn làm nên sự nghiệp bự mập, xoa chuyển trời đất, như ông đã nói rõ trong 1 bài thơ khác: Dang tay ôm chặt bồ kinh tế,Mở mồm cười tan cuộc ân oán thù.Gắn câu thơ với sự nghiệp cách mệnh hết sức sôi nổi của Phan Bội Châu ta mới cảm thu được cái khí người hùng của nhà nhà thơ lớn lao. Đấng đại trượng phu muốn làm nên điều lạ ở trên đời, từng nấu nung và tâm niệm theo 1 vần thơ cố: Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch,Lập thân tối hạ thị văn học. (Tùy viên thi thoại – Viên Mai) (Bữa bữa những mong ghi sử sách,Lập thân nặng nhất đó văn học).Đấng đại trượng phu muốn làm nên điều lạ ở trên đời đó có 1 bầu máu hot sùi sục: “Tôi được trời phú cho bầu máu hot cũng ko tới nỗi it, khi còn nhỏ đọc sách của cha tôi, mỗi lúc tới những chỗ nơi người xưa chịu chết để thành đạo nhân, nước mắt lại tầm tã bé xuống ướt đầm cả giấy…” (Ngục trung thư). Phần thực, ý thơ mở mang, tác giả tự khẳng định vai trò của mình trong xã hội và trong lịch sử: Ư bách niên trung tu hữu ngã,Khởi thiên tải hậu cánh vô thủy.Ngã là ta, tu hữu ngã tức là phải có ta trong cuộc đời 1 trăm 5 (bách niên trung). Câu thơ khẳng định bộc lộ niềm kiêu hãnh mập lao của kẻ sĩ trong cảnh nước mất nhà tan. Thiên tải hậu ngàn 5 sau, là lịch sử của non sông và dân tộc há lại ko có người nào (để lại danh tiếng) ư? Hai câu 3, 4 đối nhau, lấy cái phủ định đế làm nổi trội điều khẳng định.Ấy là 1 ý thơ thâm thúy thế hiện vai trò tư nhân trong lịch sử: chuẩn bị đảm trách mọi phận sự nhưng mà lịch sử phó thác. Ý nghĩ xinh xắn này là sự kế thừa những tư tưởng lớn lao của các vĩ nhân trong lịch sử: “Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, ngàn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng”. (Trần Quốc Tuấn). Nhân sinh tự cổ thùy vô tửLưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh. (Văn Thiên Tường) Lấy cái hữu hạn – bách niên – của 1 đời người đối với cái vô bờ – nhân tài – của lịch sử dân tộc, Phan Bội Châu đã hình thành 1 giọng thơ đĩnh đạc. hào hùng, bộc lộ 1 cố gắng và khát vọng trong buổi lên đường. Vì vậy. trên bước đường cách mệnh giải phóng dân tộc, trải qua vô vàn thách thức và nguy hiểm, ông vẫn quật cường, sáng sủa: Thân đó hãy còn, còn sự nghiệp,Bao nhiêu gian nguy sợ gì đâu!Phần luận tác giả nói về sống và chết, nói về công danh. Đây là 1 ý nghĩ rất mới lúc ta soi vào lịch sử dân tộc những 5 ám muội dưới giai cấp thống trị của thực dân Pháp. Khi quốc gia đã chết, đã bị ngoại quốc đánh chiếm, giày xé thì thân phận dân ta chỉ là kiếp ngựa trâu, có sống cũng nhơ nhuốc điếm nhục. Trong tình cảnh đó có nấu sử nghiền kinh, có chúi đầu vào tuyến đường khoa cử cũng bất nghĩa. Sách vở của thánh hiền liệu còn có lợi gì trong sự nghiệp cứu sơn hà. Non sông đã chết, sống thêm nhục,Hiền thánh còn đâu học của hoài.Phan Bội Châu đã đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trước tiên. Ông nói bằng tất cả tâm huyết và tâm thành. Ông nhắc nhở mọi người phải đoạn tuyệt với lối học sĩ tử, chẳng thể đắm chìm trong khoảng hư danh, nhưng mà phải hăm hở đi tìm lí tưởng cao cả. Trong bài Bài ca chúc tết thanh niên viết vào dịp Tết 5 1927. Cụ khẩn thiết kêu gọi thanh niên: Ai hữu chí từ nay xin gắng gỏiXếp bút nghiên nhưng mà tu dưỡng lấy tinh thầnĐừng ham chơi, đừng ham mặc, ham ănDựng gan có lên đánh tan sắt lửaXối máu hot rửa vết nhơ bầy tớ…Sống như thế là sống đẹp. Sống như thế mới mong làm nên điều lạ ở trên đời, mới tự khẳng định được: Trong khoảng trăm 5 cần có tớ. Phần kết là sự kết tinh của 1 hồn thơ bay bổng đượm sắc lãng mạn: Nguyệt trục trường phong Đông hải khứ,Thiên trùng bạch lãng nhất loạt phi.Thơ văn Phan Bội Châu là thơ văn tuyên truyền, khích lệ lòng yêu nước, khêu gợi lòng phẫn nộ giặc. Thơ văn Phan Bội Châu sở dĩ biến thành những nhân ái quốc vì thấm đượm xúc cảm, sục sôi tâm huyết, có nhiều hình tượng đẹp nói về cảm hứng yêu nước và lí tưởng người hùng. Hai cấu kết là 1 tỉ dụ hùng hồn: Trường phong – Ngọn gió dài. Thiên trùng bạch lãng – nghìn lớp sóng bạc, là 2 hình tượng kì vĩ. Chí khí của người chiến sĩ cách mệnh được diễn đạt qua các vị ngữ nguyện trục (mong đuổi theo) và nhất loạt phi (cùng bay lên).(adsbygoogle=window.adsbygoogle||[]).push({})Cái ko gian bát ngát nhưng mà nhà chí sĩ mong vượt qua là Đông hải. Hai thanh trắc cho âm điệu cất lên, bay lên. Âm hưởng bổng trầm đó cũng góp phần trình bày cố gắng mạnh bạo lên đường cứu nước của Phan Bội Châu. Ở đây nội lực, khả năng tranh đấu và khẩu khí của người chiến sĩ có sự hòa hợp, gắn bó và hợp nhất. Sự nghiệp cách mệnh của Phan Bội Châu đã cho hậu thế biết rõ và cảm phục điều Tiên sinh đã nói ở 2 cấu kết.Lưu biệt lúc xuất dương là bài thơ tuyệt bút đầy nhiệt huyết. Bài thơ là ngôn ngữ kiêu hãnh của nhà chí sĩ giàu lòng yêu nước, thương dân, dám lao vào vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. 1 giọng thơ đĩnh đạc hào hùng. Tráng lệ nhất là ở 2 cấu kết. Bài thơ trình bày 1 cách thâm thúy nhất cảm hứng yêu nước và lí tưởng người hùng của nhà chí sĩ lớn lao Phan Bội Châu.Phân tích bài Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 13Phan Bội Châu vốn được biết tới là 1 chí sĩ yêu nước, là 1 người chỉ huy nhiều phong trào yêu nước. Tuy tuyến đường nhưng mà Phan Bội Châu đang đi gặp nhiều hắc búa và tới rốt cuộc ông phải chịu thất bại nhưng mà ông vẫn là tấm gương sáng của lứa tuổi tương lai. Không chỉ là 1 người chí sĩ, Phan Bội Châu còn là 1 người nghệ sĩ với nhiều tác phẩm hay.5 1905, Hội Duy Tân của có chủ trương phong trào Đông Du, và đưa thanh niên ưu tú sang Nhật. Việc này vừa nhằm mục tiêu sẵn sàng lực lượng cốt cán cho cách mệnh, vừa nhằm mục tiêu tranh thủ sự hỗ trợ của các thần thế bên ngoài. Ngày trước lúc lên đường, Phan Bội Châu đã làm bài thơ Lưu biệt lúc xuất dương để bộc bạch ý kiến và xúc cảm của mình đối với những người đồng đội, đồng chí.Trong bài thơ Xuất dương lúc lưu biệt, Phan Bội Châu đã sử dụng tiếng nói thơ giàu sức lay chuyển. Người chí sĩ cách mệnh hiện lên trong thơ mang 1 vẻ đẹp vừa lãng mạn, vừa hào hùng. Trong buổi ra đi tìm đường cứu nước, những tư tưởng mới mẻ, táo tợn của nhà chí sĩ cách mệnh được trình bày 1 cách cháy bỏng. Mở màn bài thơ, Phan Bội Châu đã khẳng định chí làm trai ở trong trời đất: Làm trai phải lạ ở trên đờiHá để càn khôn tự chuyển dờiTrước đây, Nguyễn Công Trứ cũng đã từng nói về chí làm trai rằng đã làm trai ở trong trời đất thì phải có danh gì với sông núi. Giờ đây, Phan Bội Châu cũng nói về chí làm trai nhưng mà viết theo 1 cách khác mới mẻ hơn. Ấy chính là làm trai thì phải làm nên được điều lạ ở trên đời.Điều lạ ở đây có thể hiểu là đứng lên chống lại đối phương. Làm trai thì phải chủ động chứ ko nên thụ động để số mệnh cuộc đời mình cho trời đất xoay chuyển. Ấy là 1 lời thuyết phục lứa tuổi trẻ phải biết táo tợn và quyết liệt hơn nữa. Chí làm trai của Phan Bội Châu đã vượt qua cái mộng công danh lâu nay là gắn với tam cương, ngũ thường của Nho giáo. Chí làm trai của Phan Bội Châu vươn đến lí tưởng xã hội bao la và cao cả.1 phần cảm hứng đó có nhẽ cũng xuất hành từ lý tưởng trí quân, trạch dân của nhà Nho thuở trước nhưng mà vì mang thuộc tính cách mệnh nên tư tưởng trở thành văn minh hơn. Đúng như thiên nhiên, hồng quân xoay vần là lẽ thiên nhiên nhưng mà Phan Bội Châu bác bỏ điều đấy.Ông muốn xoay chuyển cả càn khôn chứ ko để nó tự chuyển vần. Điều này đồng nghĩa với việc Phan Bội Châu bác bỏ khuất phục số mệnh hay tình cảnh. Sang tới 2 câu thực, thi sĩ tinh thần rõ về phận sự của mình trước lịch sử, trước vận mệnh của non sông: Trong khoảng trăm 5 cần có tớSau này muôn đời há ko người nàoKhông chỉ dễ dãi là công nhận sự có mặt của đối tượng trữ tình ở trên đời nhưng mà câu thơ thứ 3 còn hàm chứa 1 tâm niệm đấy là sự hiện diện của tác giả trên đời không hề điều tình cờ. Chính từ tinh thần đấy, thi sĩ tự thấy bản thân cần phải làm những điều có lợi bởi vì sau này, chắc cũng sẽ có người nối liền tuyến đường nhưng mà mình đã đi. Cái chí làm trai ko chỉ là cái lý tưởng nghĩ suy ở trong lòng tác giả nhưng mà nó được tác giả đặt vào trong tình cảnh thực tiễn của lịch sử: Non sông đã sống chết thêm nhụcHiền thánh còn đâu học cũng hoàiỞ mỗi thời, có nhẽ chí làm trai mỗi khác. Giả dụ ở thời bình, chí làm trai là thi đỗ, làm quan thì thời chiến, sự nghiệp học hành, đeo đuổi hiền thánh ko còn đúng nữa. Nếu non sông lâm nguy, rơi vào tay giặc thì việc học hành nào có lợi gì. Non sông nhưng mà ko còn thì sống chỉ thêm nhục. Ấy là lý tưởng của con người thời đại. Đối với Phan Bội Châu, việc hiện thời là phải đánh đuổi được giặc thù. Hai câu thơ cuối đã trình bày được khát vọng muốn vươn ra biển mập của thi sĩ: Muốn vượt biển Đông theo cánh gióMuôn trùng sóng bạc tiễn ra khơiHình ảnh trong 2 câu thơ mang tầm vũ trụ, nó làm cho ý chí của tác giả trở thành mập lao hơn, kì vĩ hơn. Tất cả mọi thứ cứ như hòa nhập lại và cùng nhau thăng hoa.Bài thơ Lưu biệt lúc xuất dương đã có sức lay chuyển lòng người, cổ vũ ý thức tướng sĩ khi bấy giờ. Đây xứng đáng là 1 tuyệt tác nhưng mà ko chỉ lứa tuổi trước, cả lứa tuổi chúng ta, lứa tuổi sau này cũng đều rút ra được bài học cho riêng mình.Phân tích Lưu biệt lúc xuất dương – Mẫu 14“Con người viết văn, con người làm thơ trong Phan Bội Châu đồng tình với con người chính trị. Ngòi bút Phan Bội Châu sáng ngời chủ nghĩa yêu nước, lí tưởng người hùng”. Phan Bội Châu là người trước hết nuôi ý nghĩ đi tìm tuyến đường cứu nước mới, cả cuộc đời văn học của ông chính là cả cuộc đời cách mệnh sáng ngời. Và lúc ý chí làm trai sục sôi trong tim ông thì cũng là khi “Lưu biệt lúc xuất dương” có mặt trên thị trường, ghi lại thời khắc ông lên đường sang Nhật, giã biệt bằng hữu, đồng đội.Đối với Phan Bội Châu, là đấng đại trượng phu là phải có chí hướng riêng cho mình, chí làm trai của đứa con đất nam, ông quan niệm:“Làm trai phải lạ ở trên đờiHá để càn khôn tự chuyển dời. ”Con người tuy bé nhỏ nhưng mà chính ý chí, tư thế đã làm con người bự mập hơn so với vũ trụ. Và với Phan Bội Châu, “chí” để xây dựng được 1 con người hiển hách chính là chí làm trai. Làm trai là phải “lạ”, là phải biết sống cho phi thường hiển hách. Dám mưu đồ những chuyện động địa kinh thiên, xoay chuyển càn khôn. Đây là quan niệm này gần gụi với lí tưởng nhân sinh của các nhà nho thuở trước nhưng mà nó táo tợn hơn, quyết liệt hơn, con người dám đương đầu với vũ trụ, với đất trời bao la để tự khẳng định mình. Chính quan niệm vừa kế thừa truyền thống, vừa mới mẻ này đã tạo ra 1 con người, 1 Phan Bội Châu với tư thế khỏe khoắn, ngang tàn, ngạo nghễ, thử thách càn khôn. Ấy chính là tư thế chủ động trước thời cục, là lí tưởng vì nước, vì dân.Phạm Ngũ Lão đã từng bộc bạch quan niệm về chí làm trai của mình qua 4 câu thơ của “Thuật hoài”“Múa giáo quốc gia trải khắp thuBa quân khí mạnh nuốt trôi trâuCông danh quân tử còn vương nợ,Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu. ”Phạm Ngũ Lão như tinh thần được phận sự của bản thân trước thời cục, trước vận mệnh non sông. Suy nghĩ của Phạm Ngũ Lão đầy thiết thực;1 ngày còn bóng kẻ thù là nợ công danh của tuổi xanh với sơn hà, xã tắc vẫn còn vương, chưa trả hết. Dù ở cách nhau 7 thế kỉ nhưng mà quan niệm về chí làm trai của Phạm Ngũ Lão và Phan Bội Châu vẫn có nét giống nhau, nó như nền móng của bất kì bậc đại trượng phu nào cũng phải có dù ở thời nào. Phan Bội Châu đã nói rằng:“Trong khoảng trăm 5 cần có tớSau này muôn đời há ko người nào?”Chí làm trai là phải gắn liền với tinh thần của bản thân, tinh thần về cái tôi chứ chẳng thể nào sống bình thường tẻ nhạt, buông xui theo số mệnh. Ấy là cái tôi công dân đầy phận sự trước thời cục, trước số mệnh. Bằng nghệ thuật đối ý, tác giả đã khẳng định trong 1 khoảng trăm 5 cần có sự còn đó của mình và sau này lẽ nào ko có người nào hiểu và tiếp bước của ông hay sao. Và quả đúng như lời ông nói lúc sau đấy người thanh niên Nguyễn Tất Thành – Bác Hồ lớn lao đã ra đi tìm đường cứu nước, xây dựng nên nước Việt nam dân chủ Cộng hòa.Câu 3 vừa khẳng định dứt khoát về vai trò của cái “Tôi”, góp sức cho đời, lưu danh thiên cổ thì câu 4 lại chuyển sang nghi vấn bằng câu hỏi tu từ nhằm khẳng định quyết liệt hơn 1 khát vọng sống hiển hách, phát huy hết tài năng để góp sức cho đời. Phan Bội Châu như đã vừa khẳng định tinh thần và phận sự công dân của mình, của mọi người. Với cảm hứng lãng mạn, bay bổng gắn với hình tượng nghệ thuật kì vĩ đã gia tăng khát vọng, niềm tin, lòng yêu nước sục sôi, khẩn thiết của dân tộc.Tới với 2 câu thơ 5, 6 chính là nhận thức, thái độ quyết liệt của kẻ làm trai trước cảnh ngộ non sông phải rơi vào tay lũ giặc, tay sai, bán nước.“Non sông đã chết, sống thêm nhục,Hiền thánh còn đâu học cũng hoài!”Non sông, non sông là 1 phần hình thành con người, cốt cách, quốc gia chết ta biến thành bầy tớ thì sống chỉ thêm nhục. Giờ đây, sách vở thánh hiền chẳng còn ích gì nước lúc nước đã mất, nhà đã tan. Phan Bội Châu đã xây dựng 1 tư tưởng mới mẻ đầy táo tợn, văn minh mang đậm tính cách mệnh. Đây như lời tự bạch về nỗi đớn đau, xót xa, tủi hổ của đứa con mất nước nhưng mà lại hé mở tuyến đường cách mệnh rửa nhục sơn hà.Hằng hà sa số ý tưởng cũng chẳng bằng 1 hành động và lúc ý chí sôi sục trong Phan Bội Châu đạt đến cực điểm thì cũng là khi ông ra đi tìm tới ánh sáng chỉnh sửa vận mệnh non sông. Ông ra đi với tư thế hiên ngang mang trong mình đầy khát vọng.“Muốn vượt bể Đông theo cánh gió,Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi. ”Những hình ảnh mập lao, kì vĩ: Bể Đông cánh gió, muôn trùng sóng bạc như tạo cho Phan Bội Châu 1 tư thế như bay lên. Hình ảnh đó thật hào hung, lãng mạn, con người như được chắp đôi cánh thiên thần bay lên trên thực tiễn u tối, nghiệt ngã, vươn ngang tầm vũ trụ. Ấy là 1 tư thế hăm hở, đầy tâm huyết thăng hoa, 1 tấm lòng yêu nước của 1 thi sĩ, nhà cách mệnh.“Nhân sinh trăm 5 như 1 giọt nước vươn nơi mi mắt, nhẹ như hồng mao lại nặng như thái sơn”. 1 kiếp người, nếu ta chọn cuộc sống vì mình thì cuộc sống không hề lo nghĩ vì người nào nhưng mà giương mắt nhìn non sông lầm than thì làm sao có thể yên giấc. Phan Bội đã chọn tuyến đường ra đi tìm đường cứu nước, ông chẳng thể nhìn và để bản thân mình biến thành bầy tớ. Bằng giọng thơ nhiệt huyết có sức lay chuyển mạnh bạo, “Lưu biệt lúc xuất dương” đã khắc họa vẻ đẹp hào hùng của nhà chí sĩ cách mệnh những 5 đầu thế kỉ XX, với tư tưởng mới mẻ và khát vọng cháy bỏng trong buổi đầu ra đi tìm đường cứu nước.

[rule_2_plain] [rule_3_plain]

#Văn #mẫu #lớp #Phân #tích #bài #Lưu #biệt #lúc #xuất #dương #Dàn #mẫu #Phân #tích #Lưu #biệt #lúc #xuất #dương


  • Tổng hợp: Ôn Thi HSG
  • Nguồn: https://download.vn/phan-tich-bai-luu-biet-khi-xuat-duong-41391

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button